CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE PHÒNG CHÓNG THAM NHŨNG VÀ PHÁP LUẬT PHÒNG CHÓNG THAM NHŨNG TRONG LĨNH VỰC Y TẾ 1. Khái quát chung về tham nhũng, phòng chống tham nhũng và pháp luật phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực y tế 1. Khái niệm tham nhũng và phòng chống tham những 1. Khái niệm tham những Tham nhũng là khái niệm được quan tâm và nghiên cứu bởi nhiều ngành khoa học khác nhau.
Theo cách định nghĩa chiết tự "tham" có nghĩa là lòng tham, ham muốn có được sự sở hữu hoặc thụ hưởng lợi ích cá nhân, từ "nhũng" có nghĩa là sử dụng quyền lực hoặc tài nguyên dé đạt được lợi ích đó. Khi kết hợp lại, từ "tham nhũng" chỉ ra hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật của việc sử dụng quyền lực hoặc tải nguyên dé đạt được lợi ích cá nhân một cách không chính đáng và không hợp lệ. Tham nhũng là một từ chỉ một hành vi xấu, mang hàm ý tiêu cực, chỉ sự tha hóa khỏi bản chất, lệch lạc chuẩn mực trong hành vi của một người so với chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của họ. Theo tổ chức Minh bạch quốc tế, tham nhũng được hiểu là hành vi lạm dụng quyên lực dé thu lợi riêng.
Theo Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, tham nhũng là hành vi của người có chức vu, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. [1] Tham nhũng được hiểu là một hành vi vi phạm pháp luật với hình thức lỗi cố ý. Người tham nhũng nhận thức được hậu quả của hành vi và mong muốn hành vi xảy ra dé có thé thu được lợi ích vật chat, lợi ích phi vật chất cho mình hoặc người khác. Động cơ dẫn đến hành vi tham nhũng chắc chăn là động cơ vụ lợi xuất phát từ nhu cầu trong đời sống cá nhân hoặc do lòng tham của cá nhân.
Tham nhũng trong lĩnh vực y tế là những hành vi tham nhũng phát sinh trong hệ thống y tế Việt Nam, bởi các chủ thé có chức vụ quyên hạn trong lĩnh vực y tế được thực hiện vì mục đích vụ lợi trước, trong hoặc sau quá trình khám chữa bệnh, hỗ trợ khám chữa bệnh hoặc quản lý nhà nước về khám chữa bệnh. Các chủ thé có chức vụ quyền han trong lĩnh vực y tế rat đa dạng từ bác sĩ, giám đốc bệnh viên, công chức làm việc trong cơ quan quản lý nhà nước về y tế, viên chức làm việc trong các cơ sở thực hiện hoạt động hỗ trợ khám chữa bệnh. Tắt cả các cá nhân tham gia vào hệ thống y tế từ khám chữa bệnh cho đến quản lý nhà nước, hỗ trợ khám chữa bệnh đều có thé là chủ thé của hoạt động tham nhũng trong lĩnh vực y tế. Theo Điều 2 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, khám bệnh là việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn dé đánh giá tình trạng sức khỏe, nguy cơ đối với sức khỏe và nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh.
Chữa bệnh là việc người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để giải quyết tình trạng bệnh, ngăn ngừa sự xuất hiện, tiến trién của bệnh hoặc đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người bệnh trên cơ sở kết quả khám bệnh. Hành vi tham nhũng trong lĩnh vực y tế có thể được thực hiện trước, trong hoặc sau quá trình khám chữa bệnh, hỗ trợ khám chữa bệnh hoặc quản lí nhà nước về khám chữa bệnh. Lợi ích thu được từ hành vi tham nhũng trong lĩnh vực y tế có thể bao gồm lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất. Lợi phi vật chất bao gồm các loại tiền, tài sản, giấy tờ có giá hoặc các quà tặng, vật dụng có giá trị.
Lợi phi tinh thần có thé bao gồm tình dục, khen thưởng, cơ hội học tập, cơ hội du lịch nghỉ dưỡng, lợi ích phi vật chất khác v. Người thụ hưởng lợi ích của tham nhũng vặt có thê là người có hành vi tham những nhưng cũng có thê là những người thân, người quen có quan hệ với người tham nhũng. Khái niệm phòng tham những Phòng tham nhũng là toàn bộ các hoạt động của cơ quan nhà nước có thầm quyên trong hoạt động phòng chống tham nhũng khi thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình và tập trung vào các hoạt động giảm thiểu cơ hội phát sinh tội phạm tham nhũng, giảm thiểu các lợi ích thu được từ tham những, tăng cường khả năng phát hiện tham nhũng. Phòng tham nhũng là các biện pháp mang tính chất chủ động, phòng ngừa trước các rủi ro của tham nhũng phát sinh, chủ động ngăn chặn tham nhũng trước khi tham nhũng có cơ hội được thực hiện, răn đe đối tượng có chức vụ quyền hạn dé không dám tham nhũng, không thể tham nhũng.
Phòng tham nhũng là các biện pháp khó khăn nhưng hiệu quả về mặt dài hạn đối với xã hội vì các biện pháp phòng ngừa tuy đặt ra những tốn kém chi phí ngắn hạn nhưng lại mang lại những lợi ích về dài hạn. Thay vì “thả gà ra đuổi” và sau đó không biết được có khả năng thu hồi tài sản của tội phạm tham nhũng hay không thì các biện pháp phòng ngừa tham những triệt tiêu luôn những rủi ro đó. Biện pháp phòng ngừa tham nhũng thường tập trung các các hoạt động như tăng cường sự công khai, minh bạch, thiết lập trách nhiệm giải trình từ bộ máy nhà nước dé không dám tham nhũng. Các biện pháp giáo dục liêm chính dé người phạm tội không muốn tham nhũng.
Xây dựng các cơ chế pháp luật một cách chặt chẽ, có sự kiểm tra giám sát thường xuyên dé tội phạm tham nhũng không thé tham nhũng dễ dàng. Khái niệm chống tham nhũng Chống tham nhũng là toan bộ các hoạt động của cơ quan nhà nước có thâm quyền trong hoạt động phòng chống tham nhũng khi thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình và tập trung vào các hoạt động phát hiện và xử lý tội phạm tham nhũng, áp đặt các chế tài bất lợi như chế tài hình sự, hành chính, kỷ luật lên người vi phạm pháp luật phòng chống tham nhũng. Các biện pháp chống tham nhũng được áp dụng trước tiên phải tập trung vào việc xác định các lĩnh vực có rủi ro tội phạm cao, từ đó cơ quan nhà nước lên các kế hoạch cho việc thanh tra, kiểm tra, giám sát để phát hiện tham nhũng. Ngoài ra, cơ quan nhà nước có thé phát hiện tham những thông qua việc tiếp nhận nguồn tin báo về tội phạm từ cá nhân, tổ chức, cơ quan báo chí.
Cùng với đó, qua hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, cơ quan nhà nước cũng thu thập được các nguồn tin về tội phạm và từ đó có cơ sở dé tiép tục thực hiện các hoạt động xử lý tham nhũng. Xử lý tham nhũng bao gồm toàn bộ các biện pháp dé có thé áp dung các chế tài đối với hành vi tham nhũng. Các hành vi tham nhũng vặt, nhũng nhiễu của cán bộ, công chức chưa đến mức phải xử lý hành chính, xử lý hình sự thì các cơ quan có thê áp dụng chế tài kỷ luật đối với các hành vi này. Nếu đã phát sinh trách nhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự thì cơ quan phát hiện được hành vi tham nhũng phải căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của mình và phối hợp với các cơ quan tư pháp có liên quan đến tiễn hành xử phạt hành chính hoặc bắt đầu quy trình tố tụng hình sự.
Ngoài các hoạt động phát hiện tham nhũng và xử lý tham nhũng, các biện pháp chống tham nhũng còn bao gồm các hoạt động hợp tác quốc tế với các quốc gia trên thế giới để phòng chống tội phạm tham những, tội phạm xuyên biên giới, tội phạm chiến tranh, tội phạm rửa tiền. Các loại tội phạm này đều có mối liên hệ mật thiết với nhau và gắn với các nhóm tội phạm có tô chức, hoạt động xuyên quốc gia, xuyên biên giới. Muốn bảo vệ an ninh trật tự quốc gia, các cơ quan nhà nước phải hợp tác quốc tế dé kiểm soát sự chuyền dịch của tội phạm, kiểm soát dòng tiền tư hoạt động phạm tội mà có được. Khái niệm y tế và lĩnh vực y tế 1.
Khái niệm y tế Khái niệm "y tế" bắt nguồn từ nguyên học Latin "medicina," và từ "medicus," có nghĩa là "bác sĩ" hoặc "người trị liệu. [2] Trong tiếng Latin cô đại, "medicina" còn liên quan đến việc chữa trị bệnh tật và duy trì sức khỏe. Từ "y tế" được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngôn ngữ và là một thuật ngữ tổng quát dé ám chỉ lĩnh vực liên quan đến sức khỏe con người và các hoạt động liên quan đến chăm sóc, phòng ngừa bệnh, nghiên cứu y học, và quản lý sức khỏe. [2] Trong thời kỳ tiền lịch sử và y học cổ đại, các nguyên tắc y học chủ yếu dựa vào kiến thức dân gian và kinh nghiệm truyền miệng.
Y tế thường được thực hành bởi các thầy thuốc hoặc người thường có kiến thức về các phương thuốc tự nhiên và thảo dược. Thuật ngữ "y tế" có thé không được sử dụng cụ thé như ngày nay, nhưng các khái niệm liên quan đến việc duy trì sức khỏe va điều trị bệnh đã tồn tại từ xa xưa. Với sự phát triển của cách mạng công nghiệp và việc tiến hóa từ nông nghiệp đến sản xuất công nghiệp, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe tăng lên đáng kê. Bệnh viện hiện đại và cơ sở y tế được xây dựng dé cung cấp chăm sóc tốt hơn.
Thuật ngữ "y tế" trở nên phô biến hơn và thường được liên kết với việc cung cấp chăm sóc sức khỏe tới cộng đồng lớn hơn. Y tế hiện đại đã trở thành một phan quan trọng của cuộc sống đô thị và xã hội. [2] 10 Thế kỷ 20 chứng kiến sự xuất hiện của lĩnh vực y té công cộng, nơi sự chú trọng được đặt vào việc phòng ngừa bệnh tật và quản lý sức khỏe cộng đồng. Các chương trình tiêm chủng, giám sát dịch bệnh và quản lý sức khỏe trở thành ưu tiên hàng đầu.
Thuật ngữ "y tế" trong thời kỳ này bắt đầu ám chỉ không chỉ việc cung cấp chăm sóc cá nhân mà còn việc quản lý và duy trì sức khỏe cộng đồng. Y tế công cộng và quản lý sức khỏe trở thành một phần quan trọng của lĩnh vực này. Trong xã hội hiện đại, y tế đã trở thành một vấn đề toàn cầu.