Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý tài chính tại bệnh viện công lập Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới Chương 3: Giải pháp định hướng hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam-Cu Ba Đồng Hới 4 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BỆNH VIỆN CÔNG LẬP 1. Khái quát chung về bệnh viện công lập 1. Khái niệm, đặc điểm về bệnh viện công lập 1. Khái niệm Trong Chƣơng trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính Nhà nƣớc và đơn vị sự nghiệp giai đoạn 2004- 2005 ban hành kèm theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 của Thủ tƣớng Chính phủ đã chỉ ra: đơn vị sự nghiệp là những đơn vị hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục; khoa học công nghệ; môi trƣờng; y tế; văn hóa nghệ thuật; thể dục thể thao; sự nghiệp kinh tế; dịch vụ việc làm.
do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền thành lập. Các đơn vị sự nghiệp đƣợc Nhà nƣớc đầu tƣ cơ sở vật chất, bảo đảm chi phí hoạt động thƣờng xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn đƣợc giao. Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu, theo đó đơn vị sự nghiệp có thu là những đơn vị do Nhà nƣớc thành lập, hoạt động có thu nhằm thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thƣờng của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục; khoa học công nghệ; môi trƣờng; y tế; văn hóa nghệ thuật; thể dục thể thao; sự nghiệp kinh tế; dịch vụ việc làm.
Theo khái niệm này, các tiêu chí để xác định đơn vị sự nghiệp có thu đó là: có văn bản ra quyết định thành lập đơn vị sự nghiệp của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ƣơng hoặc địa phƣơng; đƣợc Nhà nƣớc cấp một phần kinh phí để hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu theo quy định của pháp luật; có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ hiện hành; có mở tài khoản tại kho bạc Nhà nƣớc. 5 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ đƣa ra khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập. Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, có tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán), hoạt động trong các lĩnh vực sự nghiệp giáo dục- đào tạo dạy nghề, sự nghiệp y tế, đảm bảo xã hội, sự nghiệp văn hóa thông tin, sự nghiệp thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp khác. Nhƣ vậy, khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập mới đƣa ra về cơ bản thống nhất với các khái niệm trƣớc đây.
Tuy nhiên việc xóa bỏ khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP cũng là một bƣớc chuyển quan trọng. Theo đó, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính không chỉ áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu mà còn đƣợc áp dụng đối với cả các đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu hoặc có nguồn thu ít. Đơn vị sự nghiệp y tế công lập là cơ sở y tế công lập thuộc hệ thống y tế quốc dân đƣợc Nhà nƣớc thành lập và đầu tƣ về kinh phí và cơ sở vật chất, hoạt động chủ yếu bằng nguồn NSNN hoặc các khoản đóng góp phi vụ lợi nhằm cung cấp các dịch vụ có chất lƣợng cao phục vụ cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe và nhu cầu phát triển của đất nƣớc. Bệnh viện công lập là đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế đƣợc xác định dựa vào các tiêu chuẩn sau: Có văn bản quyết định thành lập của cơ quan có thẩm quyền ở Trung ƣơng hoặc địa phƣơng; đƣợc Nhà nƣớc cung cấp kinh phí và tài sản để thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn và đƣợc phép thực hiện một số khoản thu theo quy định của Nhà nƣớc; có tổ chức bộ máy, biên chế và bộ máy quản lý tài chính kế toán theo chế độ Nhà nƣớc quy định; là đơn vị độc lập, có tƣ cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng mở tại Kho bạc Nhà nƣớc 1.
Đặc điểm của bệnh viện công lập Một là: Bệnh viện công lập là tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời là chính. Không nhƣ hoạt động sản xuất kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận của các doanh nghiêp, để thực hiện vai trò của Nhà nƣớc, Nhà nƣớc đã tổ chức và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung ứng sản phẩm, dịch vụ xã hội công cộng, hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế hoạt động bình thƣờng. 6 Hai là: Sản phẩm của các bệnh viện công lập là các sảm phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Sản phẩm, dịch vụ của bệnh viện công lập chủ yếu là giá trị về tri thức, văn hoá, phát minh, sức khoẻ, đạo đức… có tính phục vụ không chỉ một ngành, một lĩnh vực nhất định mà kho tiêu thụ sản phẩm đó thƣờng có tác dụng lan toả, truyền tiếp, tác động đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Sản phẩm đó là “hàng hoá công cộng” tác động đến con ngƣời về trí và lực tạo điều kiện cho hoạt đông của con ngƣời, tác động đến đời sống của con ngƣời, đến quá trình tái sản xuất xã hội. Ba là: Hoạt động sự nghiệp trong các bệnh viện công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các trƣơng trình phát triển kinh tế xã hội của Nhà nƣớc. Chính phủ thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội nên các hoạt động này có gắn liền với nhau. Phân loại về bệnh viện công lập Hệ thống khám chữa bệnh ở Việt Nam hiện nay gồm có các cơ sở khám chữa bệnh công lập và ngoài công lập đƣợc tổ chức theo tuyến từ trung ƣơng đến địa phƣơng, kể cả các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh của y tế các ngành khác nhƣ: Công an, quân đội, giao thông – vận tải, nông nghiệp.
Thực hiện Nghị định số 25/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lƣơng mới của công chức, viên chức hành chính, sự nghiệp và lực lƣợng vũ trang, Bộ Y tế đã ban hành Thông tƣ số13/BYT- TT ngày 27/11/1993 hƣớng dẫn tạm thời việc xếp hạng các đơn vị sự nghiệp y tế. Sau khi có sự thoả thuận của Bộ Nội vụ tại công văn số 364/BNV-TCBC ngày 27/02/2003 và công văn số 2966/BNV-TCBC ngày 18/12/2003, Bộ Y tế hƣớng dẫn tiêu chuẩn xếp hạng bệnh viện theo quy định chung: 1. Tất cả các bệnh viện, Viện nghiên cứu có giƣờng bệnh (gọi chung là bệnh viện) thuộc hệ thống y tế nhà nƣớc đều đƣợc xem xét,xếp hạng. Việc xếp hạng bệnh viện là cơ sở để: - Hoàn chỉnh về tổ chức, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và chất lƣợng phục vụ ngƣời bệnh.
- Đầu tƣ phát triển bệnh viện trong từng giai đoạn thích hợp. - Phân tuyến kỹ thuật trong điều trị. 7 - Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng, bố trí lao động và thực hiện các chế độ chính sách đối với công chức, viên chức bệnh viện. Hệ thống Bệnh viện công lập đƣợc chia làm 4 hạng: - Bệnh viện hạng đặc biệt là cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, với các chuyên khoa đầu ngành đƣợc trang bị các thiết bị y tế và các máy móc hiện đại, với đội ngũ cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho Bệnh viện hạng I.
- Bệnh viện hạng I là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế hoặc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng và các ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho Bệnh viện hạng II. - Bệnh viện hạng II là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng hoặc khu vực các huyện trong tỉnh và các ngành, có đội ngũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho Bệnh viện hạng III - Bệnh viện hạng III là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của quận, huyện trực thuộc Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Sau hơn 10 năm thực hiện, đến nay các tiêu chuẩn xếp hạng bệnh viện cần đƣợc sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế. Theo quy định sau 5 năm (đủ 60 tháng), kể từ ngày có quyết định xếp hạng, các cơ quan ra quyết định xếp hạng có trách nhiệm xem xét, xếp lại hạng của đơn vị.
Đánh giá này nhằm giúp các Bệnh viện phải luôn nỗ lực đảm bảo các yêu cầu về chuyên môn, cũng nhƣ các nhiệm vụ chính trị đƣợc giao. Quản lý tài chính tại bệnh viện công lập 1. Khái niệm Quản lý tài chính bệnh viện theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có hƣớng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tƣợng và quá trình hoạt động tài chính của bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng các nguyên tắc của Nhà nƣớc về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện. 8 Quản lý tài chính trong bệnh viện ở Việt Nam đƣợc định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn (vốn do ngân sách của chính phủ cấp, vốn viện trợ, vốn vay và các nguồn vốn khác), tài sản, vật tƣ của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo và nghiên cứu khoa học.
Mục tiêu quản lý tài chính tại bệnh viện công lập Hiệu quả thực hiện của tài chính kế toán là mục tiêu quan trọng của quản lý tài chính bệnh viện.