CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 1. KHÁI QUÁT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 1. Một số khái niệm a.
Xuất, nhập khẩu Có nhiều khái niệm khác nhau về XNK hay ngoại thương,song xét về đặc trưng thì XNK được định nghĩa là việc mua, bán hàng hóa và dịch vụ qua biên giới quốc gia. Cách định nghĩa này được sử dụng nhiều nhất khi nhìn vào các chức năng của XNK, tức vai trò nó như chiếc cầu nối giữa cung, cầu hàng hóa và dịch vụ của thị thường trong và ngoài về số lượng, chất lượng và thời gian sản xuất. Trong nhiều trường hợp, trao đổi hàng hóa và dịch vụ được đi kèm việc trao đổi các yếu tổ sản xuất (ví dụ: lao động và vốn), nhất là XNK trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế. Như vậy, XNK được hiểu như là một quá trình sản xuất gián tiếp.
[8] Trong hoạt động XNK: Xuất khẩu là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho người ngoài và nhập khẩu là phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế trong nước, không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân. Xuất khẩu là để nhập khẩu; nhập khẩu là nguồn lợi chính từ ngoại thương hay XNK. [8] Ngoài ra, XNK một bộ phận quan trọng của nền kinh tế đối ngoại, có liên quan và tác động mạnh tới sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế thông qua việc phát huy tính kinh tế nhờ quy mô và chuyên môn hóa trong phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế so sánh của mỗi quốc gia. XNK thường được nghiên cứu dưới 3 góc độ.
Đứng trên quan điểm lợi ích toàn cầu, tìm ra những quy luật, xu hướng và vấn đề mang tính chất chung của thế giới. Đứng trên lợi ích và quan điểm của mỗi quốc gia để xem xét hoạt động mậu dịch của quốc gia đó với phần còn lại của thế giới. Đứng trên quan điểm và lợi ích của doanh nghiệp, xác định phương án kinh doanh quốc tế nhằm tối đa hóa lợi nhuận của mình. Theo nghĩa phổ biến, XNK là phạm trù kinh tế phát ánh quan hệ hàng - tiền giữa các quốc gia với nhau.
Theo quan điểm của Hội nghị liên hiệp quốc về thương mại và phát triển, XNK được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế từ thương mại hiện hành(liên quan đến hàng hóa, gồm hàng sơ chế có hàm lượng công nghệ thấp và hàng tinh chế có hàm lượng công nghệ cao), đến thương mại vô hình (liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ như phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả, thương hiệu ….) và thương mại dịch vụ (như tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính viễn thông, dịch vụ, ý tế, giáo dục …. Trong điều kiện hiện nay, các khái niệm “trong nước”, “ngoài nước” phải được quy ước rất chặt chẽ. Vì trong thực tiễn xuất hiện những hình thức ngoại thương, như xuất khẩu tại chỗ-hàng hóa dịch vụ được sản xuất trong nước và bán cho chủ thể nước ngoài hoạt động trên lãnh thỗ quốc gia đó; xuất nhập khẩu quá cảnh – hàng hóa dịch vụ được sản xuất ở nước ngoài nhập vào trong nước để xuất khẩu đi nước thứ ba; các hoạt động tạm nhập tái xuất, v. Quản lý nhà nước về hoạt động xuất nhập khẩu Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động XNK đã được đề cập ở các tài liệu trong nước và quốc tế: - “Thực chất quản lý hoạt động TMQT là việc sử dụng các công cụ cần thiết nhằm đảm bảo cân bằng cán cân thương mại của quốc gia.
Theo đó, quản lý TMQT là nổ lực của các nước nhằm duy trì mục tiêu thương mại trong quá trình hợp tác quốc tế. [33] Quản lý XNK là phương thức mà qua đó, Nhà nước tác động có định hướng theo những điều kiện nhất định đối với các đối tượng (chủ thể và khách thể) tham gia 5 hoạt động XNK nhằm đảm bảo cho sự tự vận động của hoạt động XNK hướng đến các mục tiêu kinh tế - xã hội đã định của Nhà nước. Tuy nhiên, những khái niệm này chưa thật đầy đủ. Trong lúc đó, quản lý XNK trong giai đoạn hội nhập quốc tế cần phải bổ sung những nội dung mới nhằm nâng cao hiệu quả XNK.
Từ những ý tưởng hợp lý và gắn với thực tiễn công tác quản lý hoạt động XNK, có thể rút ra một khái niệm chung nhất: Quản lý nhà nước đối với hoạt động XNK có thể được hiểu là quá trình Nhà nước sử dụng các phương thức, các chính sách, công cụ, nguồn lực và các biện pháp cần thiết khác để điều chính các chủ thể XNK tuân theo những định hướng đã được Nhà nước hoạch định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và phù hợp với các quy luật của nền kinh tế thị trường cũng như qúa trình quốc tế hóa thương mại. Hay nói cách khác, quản lý nhà nước về hoạt động XNK là việc Nhà nước bằng vai trò, chức năng của mình hình thành các công cụ chính sách cần thiết và thông qua các công cụ chính sách này để điều chỉnh các đối tượng XNK vận hành theo đúng mục tiêu đề ra. Mặc dù Nhà nước không quản lý trực tiếp, song với vai trò chức năng quản lý toàn diện và tổng thể các hoạt động kinh tế, Nhà nước sử dụng các công cụ chính sách của mình để định hướng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, trong đó có lĩnh vực kinh tế đối ngoại và XNK. Như vậy, vai trò của Nhà nước trong việc quản lý các hoạt động XNK là vừa định hướng vừa trực tiếp sử dụng các chính sách, công cụ cần thiết tác động vào quá trình XNK nhằm điều chỉnh các hoạt động này đi đúng hướng.
Đặc biệt, trong điều kiện một nước đang phát triển và mới chuyển sang nền kinh tế thị trường như Lào, hoạt động XNK rất phong phú và đa dạng, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước phải nâng cao năng lực thực tiễn, nắm chắc nội dung của các quy luật kinh tế khách quan, xây dựng các công cụ, chính sách phù hợp với yêu cầu đặt ra, đổi mới hình thức, phương pháp quản lý nói chung, quản lý XNK nói riêng là những vấn đề cấp thiết và trọng yếu.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về hoạt động XNK Quản lý nhà nước về hoạt động XNK là nền kinh tế quốc dân (hoặc vắn tắt là quản lý nhà nước về kinh tế) là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của nhà 6 nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và nước ngoài, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế. Quản lý nhà nước về kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý các hoạt động xã hội liên quan đến kinh tế nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội. Quản lý nhà nước về kinh tế được thể hiện thông qua các chức năng kinh tế và quản lý kinh tế của nhà nước. [15] Thực tế đã chứng minh: Việc khắc phục những nhược điểm, hạn chế của cơ chế thị trường, để tạo điều kiện thuận lợi cho cơ chế này, hoạt động có hiệu quả, không thể không có nhà nước với tư cách là chủ thể của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế là nhu cầu khách quan, nội tại và kinh tế thị trường vận động theo cơ chế thị trường; còn việc điều tiết, khống chế và định hướng các hoạt động kinh tế của các cơ sở thuộc các thành phần kinh tế theo phương hướng và mục tiêu nào lại lệ thuộc và bản chất của các hình thức nhà nước và con đường phát triển mà nước đó lựa chọn. Từ khái niệm đã nêu có thể rút những điểm cơ bản sau: Thực chất của quản lý nhà nước về kinh tế là việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong và ngoài nước mà nhà nước có khả năng tác động vì mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước. Trong đó, vấn đề nắm bắt được con người, tổ chức và tạo động lực lớn nhất cho con người họat động trong kinh tế là vấn đề có vai trò then chốt. Đúng như Trần Hưng Đạo đã nói: “Kể ra dân không bao giờ hài lòng, sợ ta thì khinh địch, sợ địch thì khinh ta.
Bị dân khinh thì thua, dân sợ uy thì thắng. Bản chất của quản lý nhà nước về kinh tế là đặc trung thể chế chính trị của đất nước; nó chỉ rõ nhà nước là công cụ của giai cấp hoặc của lực lượng chính trị, xã hội nào? Nó dựa vào ai và hướng vào ai để phục vụ? Đây là vấn đề khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước về kinh tế của các chế độ xã hội khác nhau. Trong nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường, các hoạt động sản xuất kinh doanh, các hành vi giao dịch đều tiến hành thông qua thị trường và tuân theo các quy luật của thị trường. Nhược điểm và khuyết điểm của cơ chế thị trường sẽ khó có thể khắc phục và sẽ đẩy môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, đối ngoại vào tình trạng rối 7 loạn, khủng hoảng.
Cơ chế thị trường rất cần có môi trường ổn định và lành mạnh để hoạt động, song những nhược điểm và khuyết điểm của cơ chế này đã phát sinh những xu hướng phủ định chính những điều kiện hoạt động của bản than nó như: do chạy theo lợi nhuận cục bộ sẽ dẫn đến sự phân bố và sử dụng các nguồn lực không hợp lý, vì lợi ích kinh tế cá nhân, cục bộ mà chà đạp lên lợi ích chung, phá hoại môi sinh, gây ô nhiễm môi trường. “Cánh kéo” phân hóa giàu nghèo ngày một lớn, bất công trong xã hội ngày một tăng v.v… gây rối loạn nhiều mặt trong đời sống cộng đồng. Trong những biểu hiện trên, biểu hiện có tác động sâu sắc và toàn diện đến môi trường chung là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa các thành phần kinh tế. Cơ chế thị trường “Bàn tay vô hình” không thể khắc phục được mâu thuẫn này, mà đòi hỏi phải có bàn tay nhà nước.