phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN. Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn ngân sách tỉnh Đăk Lăk. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn ngân sách tỉnh Đăk Lăk. Tổng quan tài liệu Trong những năm qua, đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về các đề tài liên quan đến công tác quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN đã đƣợc công bố.
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu này đi sâu vào một trong những nội dung của công tác quản lý vốn đầu tƣ, rất ít công trình nghiên cứu từ khâu đầu đến khâu cuối của công tác quản lý vốn đầu tƣ XDCB thuộc nguồn vốn NSNN. Một số công trình khoa học đƣợc tiếp cận, tham khảo, làm nền tảng cho việc nghiên cứu của đề tài này nhƣ sau: Luan van 4 1. Luận văn “Phân tích thực trạng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý các dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Ninh Bình” của tác giả Bùi Đức Chung, thực hiện năm 2008. Luận văn này tập trung đánh giá thực trạng tình hình đầu tƣ phát triển và hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ phát triển từ NSNN ở tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2003-2006; qua đó, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ phát triển từ NSNN trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, nhằm đáp ứng yêu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn tới.
Tác giả luận văn này sử dụng chủ yếu phƣơng pháp thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để nghiên cứu, giải quyết các vấn đề đặt ra của đề tài. Kết quả của đề tài này là: hệ thống hóa lý luận về đầu tƣ, đầu tƣ phát triển và hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ phát triển từ ngân sách; phân tích thực trạng sử dụng vốn đầu tƣ từ NSNN tại tỉnh Ninh Bình, trong đó đi sâu vào việc quản lý thực hiện các dự án đầu tƣ; đồng thời chỉ ra một số giải pháp phù hợp với tình hình thực tế ở địa phƣơng, nhằm nâng cao hiệu quả đầu tƣ. Nhìn chung, đề tài này chỉ đi sâu vào công tác quản lý từng dự án đầu tƣ cụ thể theo trình tự, thủ tục đầu tƣ xây dựng; chƣa đề cao công tác quản lý tổng thể về vốn đầu tƣ NSNN, chƣa chú trọng đến công tác thanh toán và quyết toán vốn đầu tƣ. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành “Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN qua KBNN tỉnh, thành phố trực thuộc TW” của tác giả Phan Đình Tý thực hiện năm 2008.
Phƣơng pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài này là: phƣơng pháp phân tích kết hợp phƣơng pháp lô gic, quy nạp, diễn dịch; phƣơng pháp thống kê, so sánh và tổng hợp. Kết quả quan trọng của đề tài này là: - Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về đầu tƣ XDCB từ nguồn vốn NSNN, quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNN; - Làm rõ thực trạng công tác quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNN của một số tỉnh, thành phố trực thuộc TW trong thời gian qua; Luan van 5 - Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn đầu tƣ XDCB từ nguồn NSNN qua hệ thống KBNN tại các địa phƣơng, hoàn thiện công tác quản lý thanh toán vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN của hệ thống KBNN cấp tỉnh, thành phố trực thuộc TW. Đề tài này đã đƣợc nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận cơ bản về tài chính – ngân sách và hệ thống các văn bản quy định hiện hành về quản lý vốn đầu tƣ NSNN; tác giả đề tài là cán bộ lãnh đạo KBNN cấp tỉnh, có kinh nghiệm trong hoạt động quản lý vốn đầu tƣ NSNN, nên những đóng góp của đề tài có giá trị thực tiễn cao. Tuy nhiên, phần đánh giá thực trạng cũng nhƣ các giải pháp chỉ tập trung chủ yếu vào quá trình kiểm soát, thanh toán vốn đầu tƣ, chƣa đánh giá sâu vào các nội dung về phân bổ nguồn lực đầu tƣ và quyết toán vốn đầu tƣ từ NSNN.
Luận văn “Tăng cường kiểm soát thanh toán vốn đầu tư XDCB qua KBNN trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk” của tác giả Phạm Bình, thực hiện năm 2012. Đây là công trình nghiên cứu mới, đã cập nhật một số văn bản mới ban hành về công tác quản lý vốn đầu tƣ NSNN; tác giả đề tài là cán bộ trực tiếp làm công tác kiểm soát, thanh toán vốn đầu tƣ của KBNN Đăk Lăk, nên đã có đánh giá sâu sát về thực trạng công tác quản lý vốn đầu tƣ qua KBNN tại tỉnh Đăk Lăk. Bằng phƣơng pháp nghiên cứu tƣơng tự nhƣ hai tác giả ở trên, đề tài này đã tập trung hệ thống hóa lý luận về công tác kiểm soát, thanh toán vốn đầu tƣ qua KBNN; trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng công này tại KBNN Đăk Lăk trong những năm vừa qua, qua đó, đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng công tác kiểm soát, thanh toán vốn đầu tƣ XDCB qua KBNN trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk. Đúng nhƣ tên gọi của nó, đề tài này từ lý luận đến thực tiễn chủ yếu tập trung vào quy trình kiểm soát, thanh toán vốn đầu tƣ XDCB qua hệ thống KBNN; còn hoạt động lập kế hoạch, phân bổ vốn đầu tƣ và quyết toán vốn đầu tƣ NSNN chƣa đƣợc chú trọng.
Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XDCB TỪ NGUỒN VỐN NSNN 1. TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƢ XDCB TỪ NGUỒN NSNN 1. Khái niệm vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN - Vốn là toàn bộ những yếu tố đƣợc sử dụng vào việc sản xuất ra các của cải; vốn tạo nên sự đóng góp quan trọng đối với sự tăng trƣởng của nền kinh tế. - “Đầu tƣ là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó.
Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ” [11, tr. - “Đầu tƣ phát triển là bộ phận cơ bản của đầu tƣ, là việc chi dùng vốn trong hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xƣởng, thiết bị,…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm và vì mục tiêu phát triển” [11, tr. - Đầu tƣ XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tƣ nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các TSCĐ. Đầu tƣ XDCB đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực sản xuất của từng ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện phát triển và giải phóng sức lao động, tăng thu nhập quốc dân, dẫn tới biến đổi đáng kể mọi mặt của nền kinh tế cả về vật chất và tinh thần.
- NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Luan van 7 - Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN là một phần của vốn đầu tƣ phát triển của NSNN đƣợc hình thành từ sự huy động của Nhà nƣớc dùng để chi cho đầu tƣ XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và kết cấu hạ tầng KT-XH cho nền kinh tế quốc dân. Đặc điểm vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN * Vốn đầu tư XDCB có những đặc điểm chung như sau: - Đầu tƣ XDCB đòi hỏi một lƣợng vốn lớn và lƣợng vốn đó không mang tính ổn định hàng năm. Là hoạt động có tính chất lâu dài, kết quả của đầu tƣ XDCB là những sản phẩm có giá trị lớn, nên ngƣời sử dụng công trình không thể "mua" toàn bộ công trình trong một lúc mà phải "mua" từng phần (từng hạng mục hay bộ phận công trình hoàn thành).
Do vậy, việc cấp vốn đầu tƣ XDCB phải phù hợp với đặc điểm này; điều đó đƣợc thể hiện qua việc chủ đầu tƣ tạm ứng và thanh toán từng phần cho nhà thầu trong quá trình thi công xây dựng; nhu cầu vốn sử dụng hàng năm cũng khác nhau, tùy thuộc vào tiến độ, khối lƣợng thi công xây dựng công trình. - Chất lƣợng và giá cả công trình XDCB chịu ảnh hƣởng trực tiếp của các điều kiện tự nhiên, vì sản phẩm xây dựng có tính cố định, gắn liền với đất, nơi sản xuất cũng đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thủy văn, khí hậu. - Chi phí đầu tƣ công trình XDCB không thể xác định một cách đơn giản, vì sản phẩm XDCB mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ. Mỗi sản phẩm đều có thiết kế riêng theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế; khối lƣợng, chất lƣợng, giá trị xây dựng công trình đều khác nhau.
Vì thế, cần phải xây dựng giá dự toán riêng cho từng công trình tùy theo kết cấu công trình. - Sản phẩm XDCB không qua thị trƣờng tiêu thụ, nó chỉ đƣợc kiểm nhận, bàn giao giữa chủ đầu tƣ và đơn vị thi công tại địa điểm xây dựng sau khi công trình hoàn thành. * Vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn có một số đặc điểm riêng: - Quyền sở hữu về vốn không trùng hợp với quyền sử dụng và quản lý Luan van 8 vốn, vì thế trách nhiệm quản lý vốn không cao, dễ dẫn đến thất thoát, lãng phí, kém hiệu quả. Động lực cá nhân đối với việc sử dụng hiệu quả đồng vốn không rõ ràng, mạnh mẽ nhƣ nguồn vốn tƣ nhân.
Vì vậy, việc quản lý vốn đầu tƣ XDCB của Nhà nƣớc rất khó khăn, phức tạp. - Vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN thƣờng nhằm vào lĩnh vực ít đƣợc thƣơng mại hoá, không thu hồi vốn ngay, khả năng thu hồi vốn thấp, hoặc không thể thu hồi vốn trực tiếp.