phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài bao gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN. - Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN trên dịa bàn tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2008-2012. Luan van 5 - Chƣơng 3: Hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. Tổng quan tài liệu Việc quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ NSNN trên địa bàn cả nƣớc, đã có một số đề tài, bài viết đƣợc một số tác giả bàn đến, nhƣ: Theo Nguyễn Ngọc Định (1996), "Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư XDCB ở Việt Nam" đề tài luận án phó tiến sĩ khoa học; tác giả đã đề cập đến vấn đề quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ XDCB ở Việt Nam nƣớc có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế, xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát đất nƣớc, làm thay đổi cơ bản về năng lực của cả hệ thống, góp phần quan trọng tạo ra sự tăng trƣởng cao và ổn định về kinh tế.
Phan Thanh Mão (2003), "Giải pháp tài chính nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An" đề tài luận án tiến sĩ đã khẳng định các giải pháp tài chính có vai trò quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách nhà nƣớc. Tác giả Nguyễn Mạnh Đức, " Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư XDCB ở Việt Nam " đề tài luận án phó tiến sĩ khoa học đƣợc tác giả quan tâm nghiên cứu rất kỹ, để nâng cao hiệu quả đầu tƣ cần định hƣớng và có thể chế cụ thể theo hƣớng đảm bảo tính thống nhất; đồng thời tăng cƣờng kỹ cƣơng trong đầu tƣ, nâng cao năng lực quản lý đầu tƣ, hiệu lực và hiệu quả công tác giám sát, đánh giá hiệu quả đầu tƣ. Theo tác giả Nguyễn Công Nghiệp (2009), "Nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tư từ NSNN ở Việt Nam", Đề tài khoa học cấp Nhà nƣớc, Bộ Tài chính, Hà Nội. Tác giả khẳng định để nâng cao hiệu quả quản lý vốn đầu tƣ từ NSNN ở Việt Nam thì cần phải chú ý đến những vấn đề sau, đó là: phải đảm bảo quy hoạch đầu tƣ, nhằm xác định lĩnh vực cần đầu tƣ, nhu cầu vốn đầu tƣ; Luan van 6 Thực hiện nghiêm các bƣớc trong quản lý dự án đầu tƣ: Lập dự án; Thẩm định dự án; Giám sát dự án; Nghiệm thu dự án hoàn thành; Thực hiện tốt khâu giám sát đầu tƣ.
Tác giả Lê Toàn Thắng (2012), “ Quản lý vốn đầu tư XDCB từ ngân sách nhà nước của Thành phố Hà Nội”; tuy nhiên phạm vi nghiên cứu là một thành phố trực thuộc Trung ƣơng, Thành phố có nền kinh tế phát triển nhất nhì cả nƣớc, trình độ dân trí cao, ít chi phối bởi các yếu tố bên ngoài. Tác giả đã phân tích và đánh giá thực trang công tác quản lý vốn đầu tƣ XDCB từ ngân sách nhà nƣớc của Thành phố Hà Nội, đồng thời đề ra những giải pháp khá cụ thể, nhƣ hoàn thiện năng lực quản lý thiết kế, thẩm định và phê duyệt dự án, tăng cƣờng việc áp dụng chặt chẻ các chính sách tài chính, tiền tệ đối với đầu tƣ XDCB, tăng cƣờng vai trò, quản lý thanh toán, giải ngân của Kho bạc nhà nƣớc đối với các dự án đầu tƣ XDCB từ NSNN. Tác giả Nguyễn Văn Tuấn (2013), với bài báo “ Quản lý vốn đầu tư từ NSNN” Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 12; tác giả đã chỉ ra thực tế công tác quản lý vốn đầu tƣ từ NSNN hiện nay còn quá phức tạp, rƣờm rà, có quá nhiều cấp, nhiều ngành tham gia quản lý. Đây cũng chính là rào cản lớn đối với hiệu quả đầu tƣ, tăng trƣởng và chất lƣợng tăng trƣởng.
Theo tác giả Phƣơng Anh ( 2013), với bài báo " Còn nhiều sai phạm trong quản lý vón đầu tư" Tạp chí kinh tế và dự báo; tác giả cho rằng trong công tác quản lý vốn đầu tƣ vẫn còn nhiều sai phạm, cụ thể nhƣ: Chi đầu tƣ chỉ đáp ứng đƣợc mức thấp so với yêu cầu, Bố trí vốn còn dàn trải, thiếu tập trung, Công tác quản lý đầu tƣ còn nhiều bất cập. Vì vậy cần tăng cƣờng hơn nữa công tác quản lý vốn đầu tƣ nói chung và công tác quản lý vốn đầu tƣ XDCB nói riêng. Mặt khác, bên canh đó tác giả Anh Đức (2013), với bài báo "Chấn chỉnh quản lý đầu tư và xử lý nợ XDCB" Tạp chí Kinh tế và Dự báo; tác giả Luan van 7 chỉ ra những giải pháp cần chấn chỉnh chấn chỉnh công tác quản lý vốn đầu tƣ và xử lý nợ XDCB nhƣ: Tình trạng phê duyệt nhiều dự án quá khả năng cân đối vốn, dẫn đến phân bổ vốn dàn trải, kéo dài thời gian thi công, gây lãng phí thất thoát,. cùng với nợ đọng xây dựng cơ bản chƣa đƣợc xử lý triệt để đã và đang ảnh hƣởng xấu đến an toàn nợ công và tăng trƣởng kinh tế bền vững.
Hầu hết các công trình trên đã đề cập khá toàn diện, khái quát hoặc đi vào phân tích từng mặt, từng lĩnh vực của vấn đề công tác quản lý vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản. Tuy nhiên, chƣa có một công trình, một tác giả nào nghiên cứu cụ thể vấn đề hoàn thiện công tác quản lý vốn đầu tƣ XDCB bằng nguồn vốn NSNN ở tỉnh Quảng Bình, nơi có những đặc thù riêng về lịch sử, văn hóa, điều kiện tự nhiên cũng nhƣ những tiềm năng, thế mạnh và cả những tồn tại thực tế riêng vốn có của tỉnh Quảng Bình, nhƣ tác giả sẽ thực hiện trong luận văn này Luan van 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XDCB BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA NSNN VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƢ XDCB BẰNG NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm nguồn vốn ngân sách nhà nƣớc a.
Khái niệm ngân sách nhà nước Ngân sách Nhà nƣớc (NSNN) là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá - tiền tệ trong những phƣơng thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nƣớc của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự tồn tại của kinh tế hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của NSNN. NSNN luôn gắn liền với Nhà nƣớc, nó đƣợc dùng để chỉ các khoản thu nhập và chi tiêu của Nhà nƣớc đƣợc thể chế hoá bằng pháp luật.
Quốc hội thực hiện quyền lập pháp về NSNN, còn quyền hành pháp do Chính phủ thực hiện. Xét về hình thức, NSNN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra, để trình Quốc hội phê chuẩn và giao cho Chính phủ tổ chức thực hiện. Xét về thực thể, NSNN bao gồm những nguồn thu, khoản chi cụ thể và đƣợc định lƣợng. Các nguồn thu đều đƣợc xếp vào một quỹ tiền tệ đó là quỹ NSNN, và các khoản chi đều đƣợc xuất ra từ quỹ tiền tệ ấy.
Thu và chi quỹ này có quan hệ ràng buộc với nhau gọi là cân đối. Cân đối thu chi NSNN là một cân đối lớn trong nền kinh tế thị trƣờng và đƣợc Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm. Vì lẽ đó, có thể khẳng định NSNN là một quỹ tiền tệ lớn của Nhà nƣớc. Luan van 9 Xét về các quan hệ kinh tế, các nguồn thu, khoản chi trong NSNN đều phản ánh những quan hệ kinh tế nhất định giữa Nhà nƣớc với đối tƣợng nộp, giữa Nhà nƣớc với đối tƣợng thụ hƣởng.
"Ngân sách nhà nƣớc là toàn bộ các khoản thu, chi đã đƣơc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc" [3] b. Chi ngân sách nhà nước Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc theo những nguyên tắc nhất định. Chi NSNN là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đƣợc tập trung vào NSNN và đƣa chúng đến mục đích sử dụng. Vì thế, chi NSNN là những việc cụ thể, không chỉ dừng lại trên các định hƣớng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nƣớc.
"Chi ngân sách nhà nƣớc bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nƣớc; chi trả nợ của nhà nƣớc; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật". Do NSNN gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng, trong đó chi NSNN cấp tỉnh thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phƣơng, bao gồm: Chi đầu tƣ phát triển (ĐTPT); Chi thƣờng xuyên; Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền huy động cho đầu tƣ; Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh; Chi bổ sung cho ngân sách cấp dƣới. Trong đó chi cho ĐTPT luôn là một khoản mục chi quan trọng trong chi NSNN của Chính phủ Việt Nam trong những năm qua. Luan van 10 "Chi ngân sách nhà nƣớc là một bộ phận trong cơ cấu NSNN.
theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học thì chi NSNN là hoạt động của cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phân phối và sử dụng quỹ NSNN" [3] c. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước Vốn đầu tƣ từ ngân sách là một bộ phận cấu thành quan trọng của hoạt động chi ngân sách. Nó chính là nguồn tài chính do NSNN chi ra để thực hiện nhiệm vụ đầu tƣ phát triển trong xã hội. Nếu xét trên tổng thể nền kinh tế thì nguồn vốn ĐTPT từ NSNN (Ig) đƣợc xác định theo công thức sau: Ig = (T – Cg) + Fg Trong đó: - T: là các khoản thu của khu vực nhà nƣớc.
- Cg là các khoản chi tiêu của khu vực nhà nƣớc không kể chi đầu tƣ. Chênh lệch giữa khoản thu va chi này là tiết kiệm của khu vực nhà nƣớc. - Fg : là các khoản viện trợ và vay từ nƣớc ngoài vào khu vực nhà nƣớc.