CHƯƠNG 1 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm về bảo hiểm xã hội và bảo hiểm xã hội bắt buộc: * Khái niệm về BHXH: Trước khi nghiên cứu về BHXH chúng ta hãy cùng nhau điểm lại khái niệm và bản chất của bảo hiểm nói chung để có thể hiểu một cách chính xác hơn về BHXH trong quá trình phát triển của nó trên toàn thế giới hiện nay. BHXH là một loại hình bảo hiểm mang tính xã hội.
Sự ra đời của BHXH là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong sự phát triển của nhân loại. Sự vận hành của chủ nghĩa tư bản đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của BHXH. Trong cơ chế thị trường, nhìn chung các hoạt động kinh tế mang tính rủi ro cao thường có lợi nhuận cao. Nhưng không phải ai cũng có khả năng đối phó với rủi ro giống nhau.
Những vấn đề rủi ro như lạm phát, thất nghiệp thường vượt quá khả năng giải quyết của các cá nhân. Đối với mọi người trong xã hội, những rủi ro thường xuyên đối mặt là: Tai nạn, ốm đau, bệnh tật, thất nghiệp, hoặc đơn thuần là già yếu hết khả năng lao động. Và điều mà họ gặp phải khi các vấn đề trên phát sinh là không có tiền chi trả và chi phí cho cuộc sống. Cho đến nay, định nghĩa thế nào là BHXH vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận do được tiếp cận từ nhiều giác độ khác nhau với những quan điểm khác nhau.
Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10/12/1948 đã xác nhận “Tất cả mọi người, với tư cách là thành viên của xã hội, có quyền hưởng BHXH”. BHXH là một bộ phận cấu thành (có ý kiến coi là bộ phận quan trọng, bộ phận chủ yếu, bộ phận chính, là cơ chế chính …) hệ thống ASXH [24, tr. Theo ILO, thì BHXH là sự bảo vệ của cộng đồng xã hội với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp 7 đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của các thành viên và bảo đảm an toàn xã hội [6, tr.10] Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với vấn đề trên đây không dừng lại ở việc đề ra những chủ trương chính sách mà còn cả ở bình diện nghiên cứu, khái quát lý luận và tổ chức thực tiễn. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già và tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [29,tr.
Kỳ họp thứ 9 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, Luật BHXH của nước ta đã được ban hành (Luật số 71/2006/QH11), theo đó BHXH được xác định “là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào qũy BHXH” [15,tr2. Quan niệm trên được tiếp tục làm rõ tại Điều 3 Luật số 58/2014/QH13 Luật BHXH (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XIII thông qua ngày 20/11/2014): “BHXH là sự thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH” [16,tr2. Cơ sở của BHXH là dựa trên sự đóng góp nhằm bảo vệ sức khỏe và thu nhập, gồm các phương pháp thoát khỏi rủi ro và đóng góp tài chính vào quỹ bảo hiểm. BHXH là nhu cầu tất yếu của người lao động, được ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội.
8 Biện pháp bảo đảm thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động do gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm thông qua một quỹ trên cơ sở được tập hợp từ sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm ASXH. BHXH là một trong ba trụ cột chính trong hệ thống ASXH, các chế độ của BHXH đã hình thành từ khá lâu trước khi xuất hiện thuật ngữ ASXH. Hệ thống BHXH đầu tiên được thiết lập ở nước Phổ (nay là cộng hòa liên bang Đức) từ năm 1850 sau đó được hoàn thiện ở giai đoạn 1883-1889 lúc đó đã gồm bảo hiểm ốm đau, bảo hiểm rủi ro nghề nghiệp, bảo hiểm tuổi già tàn tật và sự hiện diện của 3 chủ thể (3 thành viên xã hội): Người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước. Có thể thấy, mặc dù các khái niệm về BHXH luôn thay đổi theo quá trình phát triển KT-XH từng giai đoạn của sự phát triển kinh tế, nhưng đều phản ánh bản chất vấn đề BHXH đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm.
Từ những trình bày trên có thể hiểu BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp rủi ro, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở những đóng góp tài chính của họ vào quỹ BHXH. * Khái niệm BHXH bắt buộc BHXH bắt buộc là một loại hình bảo hiểm xã hội. Tại khoản 2 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 xác định: BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người lao động và người sử dụng lao động phải tham gia. Chế độ BHXH là các quy định cụ thể và chi tiết về thực hiện BHXH.
Ở Việt Nam, hiện có 06 chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc: (1) Chế độ ốm đau: Khi người lao động bị ốm đau, tai nạn không phải là tai nạn lao động hoặc tự hủy hoại sức khỏe của họ và có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền theo quy định của Bộ Y tế thì họ sẽ được nghỉ hưởng chế độ ốm đau. Trường hợp người lao động có con dưới 7 tuổi cũng sẽ được hưởng chế độ nghỉ con ốm nếu như có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. 9 Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau và mức hưởng chế độ ốm đau phụ thuộc vào đối tượng hưởng, làm việc trong môi trường bình thường hay làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên, mắc bệnh nhẹ hay mắc bệnh thuộc Danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành và thời gian tham gia BHXH. Sau khi hưởng chế độ ốm đau, trong vòng 30 ngày kể từ ngày quay lại làm việc mà sức khỏe người lao động chưa được phục hồi thì họ còn được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
(2) Chế độ thai sản: Người lao động thuộc đối tượng và thuộc một trong các trường hợp theo quy định tại Điều 30 và Điều 31 Luật BHXH năm 2014 khi đang đóng BHXH vào quỹ ốm đau và thai sản sẽ được nghỉ hưởng chế độ thai sản. Đối với người lao động nữ đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản sẽ được nghỉ khám thai; nghỉ hưởng chế độ khi sảy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý; nghỉ hưởng chế độ khi sinh con; nghỉ hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai. Ngoài ra, lao động nữ khi mang thai hộ, người mẹ nhờ mang thai hộ hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi cũng sẽ được nghỉ hưởng chế độ thai sản khi đủ điều kiện hưởng. Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi.
Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì cha được trợ cấp một lần bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng sinh con cho mỗi con. Lao động nữ sau khi hưởng chế độ thai sản, trong vòng 30 ngày kể từ ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày. (3) Chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: 10 Người lao động khi bị tai nạn lao động thuộc đối tượng quy định tại Điều 42 Luật BHXH năm 2014 và đủ điều kiện được quy định thuộc Điều 43, Điều 44 Luật BHXH năm 2014 sẽ được hưởng trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hàng tháng tùy thuộc vào mức độ suy giảm khả năng lao động, thời gian tham gia bảo hiểm xã hội. Ngoài khoản trợ cấp một lần và trợ cấp hàng tháng, người lao động khi đủ điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động, chế độ bệnh nghề nghiệp còn có thể được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình; hưởng trợ cấp phục vụ hàng tháng; trợ cấp một lần khi chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật.
(4) Chế độ hưu trí: Về điều kiện nghỉ hưu phụ thuộc vào tuổi, thời gian tham gia BHXH tối thiểu là 20 năm, công việc, mức suy giảm khả năng lao động,… được quy định tại Điều 54 và Điều 55 Luật BHXH năm 2014. Mức lương hưu hàng tháng của người lao động đóng BHXH tùy thuộc vào thời gian tham gia BHXH và mức bình quân tiền lương đóng BHXH. Năm 2019, mức lương hưu hàng tháng của người lao động tương ứng với 45% mức bình quân tiền lương đóng BHXH đối với người lao động nam nghỉ hưu tham gia BHXH 17 năm và lao động nữ nghỉ hưu tham gia BHXH 15 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.