Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “nâng cao năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh công ty TNHH Mỹ Phẩm Marado” Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại Chương 3: Phân tích thực trạng năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh công ty TNHH Mĩ Phẩm Marado Chương 4: Các đề xuất nhằm nâng cao năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh tại công ty TNHH Mĩ Phẩm Marado GVHD: ThS. Phạm Hà Phương 5 SV: Trần Thị Thêm – K45U2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về lao động, lao động trong doanh nghiệp thương mại, nhân viên trực tiếp kinh doanh a.
Khái niệm về lao động Theo PGS.TS Hoàng Văn Hải, Ths. Vũ Thùy Dương (2010), Quản trị nhân lực, Nhà xuất bản Thống Kê: Lao động: Là hoạt động có mục đích của con người. Thông qua hoạt động đó con người tá động vào giới tự nhiên cải biến chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người. Lao động là một hành động diễn ra giữa con người và giới tự nhiên.
Lao động chỉ có ở con người hơn nữa chỉ có trong một tuổi nhất định Lao động làm cho con người phát triển cả về thể lực lẫn trí lực và càng ngày càng hoàn thành b. Khái niệm lao động trong doanh nghiệp thương mại Theo PGS.TS Phạm Công Đoàn- TS.Nguyễn Cảnh Lịch (2012), Kinh tế doanh nghiệp thương mại, Nhà xuất bản thống kê: Lao động trong doanh nghiệp thương mại: Là bộ phận lao động xã hội cần thiết được phân công thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa. Bao gồm lao động thực hiện quá trình mua bán, vận chuyển, đóng gói, chọn lọc, bảo quản và quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích lao động của họ là nhằm đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng.
Lao động thương mại là loại lao động phức tạp đòi hỏi trình độ chuyên môn tổng hợp. Lao động thương mại là chiếc cầu nối liền giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Xuất phát từ tính chất và đặc điểm hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại nên tỷ lệ lao động nữ cao trong lao động thương mại Lao động thương mại mang tính chất thời vụ rất cao. Tính chất thời vụ này không những thể hiện rõ giữa các mùa vụ trong năm mà còn thể hiện rõ giữa các ngày trong tháng, thậm chí giữa các thời giờ lao động trong ngày.
Khái niệm nhân viên trực tiếp kinh doanh Từ khái niệm về lao động, lao động thương mại đã nêu trên ta có thể hiểu về nhân viên trực tiếp kinh doanh như sau: Nhân viên trực tiếp kinh doanh: Là một bộ phận của lao động thương mại, thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong đó chủ yếu trực tiếp tiếp xúc GVHD: ThS. Phạm Hà Phương 6 SV: Trần Thị Thêm – K45U2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực với khách hàng cung cấp những dịch vụ cho khách hàng đồng thời làm nhiệm vụ giữ liên lạc và chăm sóc khách hàng để có thể duy trì mối quan hệ thân thiện lâu dài với khách hàng. Năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại a. Khái niệm năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại Năng suất lao động là một chỉ tiêu đánh giá hiệu quả “Năng suất lao động là hiệu quả của hoạt động có ích của con người trong một đơn vị thời gian, nó được biểu hiện bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc hao phí để sản xuất ra được một sản phẩm” (Giáo trình Kinh tế lao động, PGS.TS Mai Quốc Chánh.Nxb Giáo dục.Tr119) Công thức : Hoặc Trong đó : W : năng suất lao động Q : Sản lượng sản xuất ra trong đơn vị thời gian T,có thể biểu hiện bằng số lượng sản phẩm hoặc giá trị, doanh thu ,lợi nhuận… T : lượng lao động hao phí để hoàn thành sản lượng Q (đơn vị : người, ngày công, giờ công…) t : lượng lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động là phạm trù kinh tế nói lên hiệu quả sản xuất của người lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Thực chất nó là giá trị đầu ra do một công nhân tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định hoặc số thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị đầu ra. Khác với các ngành sản xuất vật chất, đối tượng lao động lao động của lao động thương mại là sản phẩm hàng hóa đã hoàn chỉnh. Mục đích lao động của nhân viên thương mại là đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng một cách nhanh nhất và với chi phí thấp nhất hoặc là thời gian lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa tiêu thụ. Cũng như trong các ngành sản xuất, năng suất lao động trong thương mại được biểu hiện bằng hiện vật hoặc giá trị, nhưng vì hàng hóa kinh doanh bao gồm nhiều chủng loại, kiểu cỡ khác nhau nên phần lớn phải dùng giá trị mới khái quát được chỉ tiêu này GVHD: ThS.
Phạm Hà Phương 7 SV: Trần Thị Thêm – K45U2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực Theo PGS.TS Hoàng Văn Hải, Ths. Vũ Thùy Dương (2010),Quản trị nhân lực, Nhà xuất bản Thống Kê: Năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại là mức tiêu thụ hàng hóa bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian. Tăng năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại là tăng mức tiêu thụ hàng hóa bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian, hoặc giảm thời gian lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa tiêu thụ. Đơn vị trị giá hàng hóa tiêu thụ ở đây có thể là 1.
Như vậy tăng năng suất lao động luôn gắn liền với giảm hao phí lao động, giảm giá thành sản xuất kinh doanh. Năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh Năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh: Là mức tiêu thụ hàng hóa bình quân của của một nhân viên trực tiếp kinh doanh trong một đơn vị thời gian nhất định. Hoặc mức hao phí lao động cần thiết để thực hiện một đơn vị giá trị hàng hóa trong một thời gian. Nội dung nâng cao năng suất lao động của nhân viên trực tiếp kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại 2.
Ý nghĩa của việc tăng năng suất lao động trong các doanh nghiệp thương mại Tăng năng suất lao động trong các doanh nghiệp thương mại có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Tăng năng suất lao động trong các doanh nghiệp thương mại là yếu tố để không ngừng mở rộng tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp, tạo điều kiện phục vụ tốt khách hàng. Góp phần tiết kiệm lao động đầu tư cho lưu thông hàng hóa tạo điều kiện tăng lao động cho các ngành sản xuất vật chất của nền kinh tế quốc dân. Rút ngắn thời gian hàng hóa dừng lại trong khâu lưu thông, thúc đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội.
Phạm Hà Phương 8 SV: Trần Thị Thêm – K45U2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực Tăng năng suất lao động là điều kiện để các doanh nghiệp tiết kiệm hao phí lao động, tiết kiệm chi phí, tăng tích lũy cho doanh nghiệp và xã hội, cải thiện đời sống cho người lao động trong doanh nghiệp. Vai trò của nhân viên trực tiếp kinh doanh Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin những thuật ngữ bán hàng tự động (sales force automation) hoạt động bán hàng qua Internet, điện thoại, và các giao dịch điện tử khác đang đặt ra câu hỏi với các nhà doanh nghiệp: liệu chúng ta có còn cần đội ngũ nhân viên trực tiếp kinh doanh nữa hay không? Câu trả lời là Có. Trước khi hiểu được đúng đắn vai trò của lực lượng bán hàng, hãy đặt câu hỏi cho chính mình “lực lượng bán hàng để làm gì?” và “tại sao một số hãng như Microsoft, Vodaphone luôn đào tạo và tuyển chọn kỹ càng lực lượng bán hàng trong khi một số hãng tiêu dùng khác lại không làm như vậy?” hay “Có phải lúc nào bán hàng cũng là cung cấp giải pháp cho khách hàng hay không?” Giải thích được những câu hỏi trên, cần phải phân biệt rõ ba hình thức bán hàng (bán hàng giao dịch, bán hàng tư vấn và bán hàng quan hệ chiến lược) mà ở đây trong phạm vi ứng dụng của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Thứ nhất là bán hàng mang tính chất giao dịch (transactional sales), hình thức bán hàng áp dụng cho những hàng hoá tiêu dùng mang tính phổ biến người tiêu dùng ít có sự phân biệt và không đòi hỏi sự trợ giúp từ người bán, vai trò của người bán không còn đặc biệt quan trọng nữa.
Điều mà người tiêu dùng cần là một giá cả cạnh tranh và sự thuận tiện trong việc mua bán. Như vậy thì điểm mấu chốt vẫn là xây dựng được một mạng lưới phân phối rộng và giá thành hạ do việc sản xuất đạt đến lợi thế nhờ quy mô. Đối với những mặt hàng bán theo hình thức này, các hãng có thể tiết kiệm được chi phí nhờ áp dụng công nghệ thông tin hay những công nghệ khác. Sản phẩm doanh nghiệp rơi vào hình thức bán hàng này là điều nguy hiểm nhất, bởi lợi nhuận trên từng sản phẩm ngày càng ít, cạnh tranh ngày càng cao.
Giải pháp cho những sản phẩm này sẽ được đề cập ở một chuyên mục khác. Thứ hai là bán hàng tư vấn (consultative sales) là hình thức bán những sản phẩm có đi kèm với dịch vụ tư vấn. Ví dụ: bán các mặt hàng mỹ phẩm. Khách hàng tuy có nhu cầu về sản phẩm làm đẹp, tuy nhiên họ rất cần sự tư vấn của người bán hàng đối với những sản phẩm này.
Với mặt hàng là phấn phủ sẽ chia làm nhiều tông, nhân viên trực tiếp kinh doanh phải nhận định được đặc tính loại da của khách hàng thuộc loại da nào, có nhạy cảm hay không để tư vấn cho họ dùng sản phẩm nào là phù hợp nhất. Người bán hàng những sản phẩm ở hình thức này cần giúp đỡ GVHD: ThS. Phạm Hà Phương 9 SV: Trần Thị Thêm – K45U2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Quản trị nhân lực khách hàng hiểu được những vấn đề vướng mắc của họ, những cơ hội có thể có, tìm ra những giải pháp sáng tạo cho khách hàng.