CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về năng suất lao động 1.1 Khái niệm Năng suất là một khái niệm dùng để đo lường hiệu suất giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để tạo ra đầu ra đó. Các yếu tố đầu vào bao gồm vốn, lao động, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu…Các yếu tố đầu ra được đo bằng sản lượng hiện vật, doanh thu, giá trị sản phẩm đầu ra theo giá cố định, giá trị hiện hành,… Có khá nhiều định nghĩa về năng suất trên những góc độ quan điểm khác nhau. Khái niệm năng suất thay đổi, mở rộng theo thời gian và theo sự phát triển của quản lý sản xuất.
Tangen (2005), đã tổng kết định nghĩa năng suất của nhiều nhà nghiên cứu và kết luận rằng: Năng suất là một thuật ngữ rộng, ý nghĩa của nó có thể thay đổi tùy thuộc vào phạm vi sử dụng. Định nghĩa năng suất – Tangen (2005) Định nghĩa Nguồn tham khảo Năng suất = Khả năng sản xuất (Littre, 1883) Năng suất là tỷ số giữa đầu ra trên ( The organization for European một trong những yếu tố sản xuất: Economics Corporation – OEEC, năng suất vốn, năng suất đầu tư, 1950) năng suất nguyên vật liệu… Năng suất là những điều mà con (Japan Productivity Center – JPC, người có thể đạt đến với nguyên vật 1958) liệu, vốn và công nghệ. Năng suất là một sự cải tiến liên tục. Năng suất biểu hiện khả năng của (The British Insstitute of các yếu tố sản xuất, lao động và vốn Management foundation - BIM, trong việc tạo ra giá trị 1976) Khả năng tạo lợi nhuận = năng American Productivity Center –APC, 6 suất x giá 1979) Năng suất = số đơn vị đầu ra thực (Sink and Tuttle , 1989) tế / nguồn lực đã sử dụng Năng suất là một sự so sánh các (Kaplan & Cooper, 1989) đầu vào với đầu ra của một phân xưởng sản xuất.
Năng suất = tổng thu nhập/ (Chi (Fisher, 1990) phí + lợi nhuận kỳ vọng) Nắng suất = giá trị gia tăng/ đầu Aspen et al., 1991 vào các yếu tố sản xuất Năng suất là tỷ số giữa số sản Hill, 1993 phẩm được sản xuất và nguồn lực cần thiết để sản xuất nó. Năng suất đo lường mối quan hệ giữa đầu ra như sản phẩm, dịch vụ và các đầu vào bao gồm lao động, vốn nguyên liệu, vật liệu và các đầu vào khác Năng suất là yếu tố chính quyết Thurow, 1993 định chất lượng cuộc sống Năng suất là ti số giữa đầu ra (sản Movhanty Yadav, 1994 phẩm hay dịch vụ) và vốn đầu vào ( vốn, lao động, nguyên vật liệu và các đầu vào khác) Trong sản xuất, năng suất có tương Appelbaum, 2005 quan với tổng doanh thu và có tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp.2 Phương pháp tính năng suất lao động Đối với năng suất lao động, ta có ba cách đo lường năng suất thông dụng: đo lường bằng sản phẩm hiện vật, đo lường bằng sản phẩm doanh thu và đo lường bằng sản phẩm biên. Mỗi cách đo lường lại có ưu nhược điểm riêng.1 Năng suất tính theo sản phẩm hiện vật Sản lượng hiện vật tức là đo khối lượng hàng hoá bằng đơn vị vốn có của nó. Ví dụ như quạt đo bằng chiếc; xi măng đo bằng tấn, kg, bao… tuỳ theo từng loại sản phẩm.
Phương pháp tính năng suất theo sản phẩm hiện vật có hai cách: tính theo năng suất sản phẩm trung bình hoặc tính theo năng suất sản phẩm cận biên. Cách đo lường năng suất lao động theo sản phẩm hiện vật có ưu nhược điểm như sau: Nhược điểm: không thể dùng để tính cho tất cả các loại sản phẩm, không phù hợp với thực tế hiện nay của các những doanh nghiệp sản xuất hàng hóa vì thường doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm. Ưu điểm: chỉ tiểu này biểu hiện mức năng suất lao động một cách cụ thể, không chịu ảnh hưởng của giá cả, có thể so sánh mức năng suất lao động các doanh nghiệp hoặc các nước khác nhau khi sản xuất cùng loại sản phẩm.1 mô tả mối quan hệ giữa số lượng các yếu tố đầu vào và số lượng áo sản xuất của quá trình sản xuất này. Lượng vốn coi như không đổi với số lượng máy móc và nhà xưởng giữ nguyên (coi như bằng 1 đơn vị) và số lượng lao động được sử dụng trong sản xuất tăng dần từ 1 đến 10.
Rõ ràng, nếu không có lao động nào thì quá trình sản xuất không diễn ra và sản lượng sẽ bằng không. Khi bắt đầu sử dụng một lao động, sản lượng tăng lên 3 đơn vị; ta nói năng suất biên của người lao động thứ nhất là 3. Khi tăng số lao động lên 2, sản lượng tăng từ 3 lên 7 đơn vị; ta nói năng suất biên của lao động thứ hai này là 4. Tương tự, khảo sát sự thay đổi của sản lượng khi tăng dần số lao động, chúng ta có thể hình thành cột năng suất biên của lao động.
Đó là cột 4 trong bảng 2.2: Ví dụ về mối quan hệ giữa yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất áo 8 Đơn vị: cái/chiếc Vốn Lao động Q MPL APL 1 1 3 3 3 1 2 7 4 3,5 1 3 13 6 4,33 1 4 17 4 4,25 1 5 20 3 4 1 6 22 3 3,67 1 7 22 0 3,14 1 8 21 -1 2,625 1 9 20 -1 2,22 1 10 18 -2 1,8 Nguồn: tác giả tổng hợp Như vậy, năng suất biên của một yếu tố sản xuất nào đó chính là đạo hàm của tổng sản lượng theo số lượng yếu tố sản xuất đó. Như vậy, về mặt hình học, năng suất biên là độ dốc của đường tiếp tuyến của đồ thị hàm sản xuất tại từng điểm cụ thể. Từ bảng trên ta có thể rút ra rằng, năng suất cận biên của lao động sẽ giảm dần với cùng một lượng vốn cố định. Đối với hầu hết các quá trình sản xuất, năng suất biên của các yếu tố sản xuất (vốn và lao động) cũng diễn biến theo quá trình tương tự.
Do vậy, quy luật năng suất biên giảm dần có thể được phát biểu như sau: "Nếu số lượng của một yếu tố sản xuất tăng dần trong khi số lượng (các) yếu tố sản xuất khác giữ nguyên thì sản lượng sẽ gia tăng nhanh dần. Tuy nhiên, vượt qua một mốc nào đó thì sản lượng sẽ gia tăng chậm hơn. Nếu tiếp tục gia tăng số lượng yếu tố sản xuất đó thì tổng sản lượng đạt đến mức tối đa và sau đó sẽ sút giảm." Quy luật năng suất biên giảm dần tác động đến hành vi và quyết định của doanh nghiệp trong việc lựa chọn các yếu tố đầu vào như thế nào để tăng năng suất, giảm chi phí và tối đa hóa lợi nhuận. 9 Tương tự như năng suất biên, ta có thể thấy trong thí dụ trên, năng suất trung bình của lao động lúc đầu cũng tăng lên nhưng sau đó giảm đi khi số lao động từ 4 trở lên.
Chúng ta có thể nhận thấy năng suất trung bình của lao động giảm xuống khi năng suất biên thấp hơn năng suất trung bình. Ngược lại, năng suất trung bình tăng lên khi năng suất biên lớn hơn năng suất trung bình.2, chúng ta có thể xây dựng hình dạng của các đường tổng sản lượng, đường năng suất biên và năng suất trung bình của lao động như hình 4. Ở những mức lao động đầu tiên, tổng sản lượng tăng rất nhanh nên độ dốc của đường này tăng và như vậy năng suất biên tăng, đường năng suất biên dốc lên. Khi số lao động lớn hơn 3, tổng sản lượng tăng chậm dần, độ dốc của đường sản lượng giảm nên năng suất biên giảm.
Đường năng suất biên dốc xuống. Sau đó, đường sản lượng đạt cực đại, điều này cũng có nghĩa là việc tăng thêm số lao động không làm tăng thêm sản lượng. Sau đó, sản lượng giảm xuống, đường tổng sản lượng có độ dốc âm nên năng suất biên âm.1: Quy luật năng suất cận biên giảm dần Nguồn: giáo trình kinh tế học vi mô, 2008, NXB Lao động, Hà Nội Q Q O L L1 L L3 2 Q APL O L1 L L3 L MP 2 L Đơn vị: số lao động, số sản phẩm 10 Như vậy, tại điểm năng suất lao động trung bình bằng với năng suất lao động biên thì năng suất lao động trung bình là cực đại.2 Năng suất tính theo sản phẩm doanh thu Đây là phương pháp tính năng suất theo tỷ lệ tổng giá trị của sản phẩm được quy về đơn vị tiền tệ đang được lưu hành trên tổng số lao động. Cách tính này tương đối phổ biến vì đơn giản và dễ đo lương.
Ta cũng có hai cách tính theo tổng giá trị doanh thu bình quân và tổng quá trị doanh thu cận biên như sau: Nhược điểm: chỉ tiểu này biểu hiện mức năng suất lao động một cách không cụ thể, chịu ảnh hưởng của giá cả- không thể so sánh mức năng suất lao động các doanh nghiệp hoặc các nước khác nhau theo một loại sản phẩm được sản xuất ra hay thậm chí so sánh cùng một doanh nghiệp nhưng qua các năm khác nhau cũng không chính xác hoàn toàn. Ưu điểm: có thể dùng để tính cho tất cả các loại sản phẩm. phù hợp với thực tế hiện nay của các những doanh nghiệp sản xuất hàng hóa vì thường doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm. Mặc dù nhược điểm của phương pháp này rất khó khắc phục, nhưng các tính năng suất này rất phổ biến khi các cục, bộ, ban ngành thống kê về doanh nghiệp.
Nhìn vào kết quả kinh doanh chính (doanh thu thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh) là có thể tính toán được năng suất chung của doanh nghiệp hay thậm chí cả một ngành. Và đây cũng là phương pháp tính năng suất mà tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu này.3 Sự cần thiết của tăng năng suất lao động Thứ nhất, năng suất lao động tăng làm cho giá thành sản phẩm giảm vì tiết kiệm được chi phí tiền lương cho một đơn vị sản phẩm. Thứ hai, tăng năng suất lao động cho phép giảm được lao động, tiết kiệm được quỹ tiền lương, đồng thời tăng tiền lương cho cá nhân người lao động. Việc tăng tiền lương khi năng suất lao động tăng mang lại rất nhiều ích lợi cho người lao động và nền kinh tế.
Đó là không những khuyến khích,tạo động lực làm việc cho người lao động mà còn làm tăng thu nhập cho người lao động làm 11 cho cầu tiêu dùng và tiết kiệm tăng lên. Cầu tiêu dùng tăng sẽ khuyến khích sản xuất và tạo thêm công việc cho lao độn, cầu tiết kiệm tăng làm tăng vốn đầu tư cho nền kinh tế.