Mở đầu: Trình bày một cách tổng thể nội dung của toàn bộ nghiên cứu. Chương này cho thấy lý do và vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Các lý thuyết cơ sở về vấn đề nghiên cứu, bao gồm các lý thuyết về vốn tâm lý, động lực làm việc và hiệu quả làm việc cũng như là tìm hiểu mối quan hệ lý thuyết giữa các thành phần này, đặc biệt là giữa vốn tâm lý với động lực và hiệu quả làm việc. Chương 3: Thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: Chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, các giả thuyết nghiên cứu căn cứ từ việc nghiên cứu lý thuyết.
Nó còn bao gồm việc thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn sâu, xây dựng thang đo, thiết kế phỏng vấn, kế hoạch lấy mẫu, các phương pháp và kỹ thuật ước lượng sẽ được sử dụng trong đề tài để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Nêu các kết quả phân tích dữ liệu bao gồm các phân tích thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy của thang đo (crobach alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích ma trận tương quan, phân tích hồi quy cũng như là các kiểm định cần thiết. Và cuối cúng là thảo luận về kết quả hồi quy của từng nhân tố chính. Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Chương này đưa ra các kết luận sau khi phân tích thực nghiệm từ Chương 4.
Từ đó các khuyến nghị cũng được đưa 4 ra đối với các bên liên quan. Cuối cùng những hạn chế của nghiên cứu được đưa ra cũng như là đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này tìm hiểu nội dung về mặt lý thuyết về vốn tâm lý và những ảnh hưởng của vốn tâm lý tới động lực và hiệu quả làm việc thông qua những nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước 2. Có nhiều cách hiểu về vốn tâm lý.
Theo Avey và các cộng sự (2009), vốn tâm lý được được định nghĩa như là bản chất của con người và là trạng thái tâm lý tích cực trong sự phát triển của cá nhân. Nó trả lời cho câu hỏi bạn là ai và bạn có thể đạt được cái gì xét về mặt phát triển tích cực (Avolio và Luthans, 2006). Vốn tâm lý khác với vốn nhân lực (bạn biết gì?), vốn xã hội (bạn biết ai?), và vốn tài chính (bạn có cái gì?). Nó ảnh hưởng tích cực tới bản chất con người và giúp các cá nhân có được hiệu quả cao trong công việc (Luthans và Youssef, 2004).
Nói chung vốn tâm lý thường được nghiên cứu dưới cái ô lý thuyết của nó là hành vi tổ chức (Avey và các cộng sự, 2009) Theo Luthans và các cộng sự (2007), vốn tâm lý là trạng thái phát triển tâm lý tích cực của một cá nhân và được mô tả bởi : (i) sự tự tin để đảm nhận và thực hiện những nhiệm vụ mang tính thử thách với nỗ lực cần thiết để đạt được thành công; (ii) thái độ lạc quan về sự thành công ở hiện tại và tương lai; (iii) kiên trì hướng tới mục tiêu và khi cần thiết có thể xoay chuyển mục tiêu để đạt đến thành công; và (iv) khi đối mặt với những vấn đề bất lợi, họ duy trì, thích nghi và vượt qua những trở ngại để đạt thành công. Nhìn chung, vốn tâm lý có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, vốn tâm lý mang tính cách của một cá nhân, mặc dù nhìn chung ổn định và nhất quán, nhưng dễ thay 6 đổi trong các tình huống khác nhau (Robbins và các cộng sự. Điều này được khẳng định bởi Luthans và cộng sự (2007) khi các tác giả cho rằng: không giống như các yếu tố xác định về mặt di truyền, vốn tâm lý thay đổi tùy thuộc vào kinh nghiệm, tuổi tác, quá trình, biến động tâm lý. Thứ hai, vốn tâm lý khác với các khái niệm về vốn con người và vốn xã hội (hoặc trong doanh nghiệp là vốn xã hội của tổ chức) được coi là năng suất biểu hiện trong các mối quan hệ làm việc giữa người với người (Tomer, 1999).
Vốn tâm lý được xây dựng dựa trên những lý thuyết và nghiên cứu về vốn con người và vốn xã hội. Tuy nhiên nó đã vượt ra khỏi những lý thuyết và nghiên cứu về vốn con người, nghĩa là “bạn biết gì”, và vốn xã hội “bạn biết ai”. Cụ thể vốn tâm lý đề cập đến “bạn là ai” và trong nhận thức phát triển “ai là người bạn đang muốn trở thành?” (Luthans và các cộng sự, 2007). Thứ ba, tuy nhiên có sự phối hợp giữa vốn tâm lý, vốn con người, và vốn xã hội.
Ví dụ, những cá nhân có sự sự tự tin cao, khả năng thích nghi, hay sự kiên cường (resiliency) sẽ có nhiều khả năng đạt được thành tích trong học tập hoặc trong các nhiệm vụ công việc mới (đó là kỹ năng phát triển vốn con người) và thúc đẩy các mối quan hệ xã hội (vốn xã hội) (Luthans và các cộng sự, 2007) Vốn tâm lý có bốn thang đo (i) Niềm hy vọng (Snyder và các cộng sự, 1996), (ii) Tính kiên trì (Wagnild và Young, 1993) , (iii) Sự lạc quan (Scheier và Carver, 1985), (iv) Niềm tin vào bản thân (Parker và các cộng sự, 1998). Tập hợp ý kiến của các tác giả trên, Luthans và các cộng sự, (2007) đề xuất bốn thành phần cấu thành vốn tâm lý gồm: hy vọng (hope), tính kiên trì (resiliency), lạc quan (optimism) và sự tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy). Những nhân tố này có mối quan hệ tích cực tới động lực làm việc và hiệu quả công việc. Trong đó, sự tự tin vào năng lực bản thân có tác động dương đến hiệu quả làm việc (Stajkovic và Luthans, 1998).
ự lạc quan của nhân viên có tương quan với hiệu quả làm việc, sự hài lòng, hạnh phúc và sự duy trì (Youssef và các cộng sự, 2007). Tính kiên trì có tác động dương đến hiệu quả làm việc của nhân viên (Luthan và các cộng sự, 2005), hạnh phúc và sự hài lòng (Youssef & Luthans, 2007). 7 Như vậy, vốn tâm lý là một thang đo được cấu thành bởi các cấu trúc đo lường bậc hai của nó và các cấu trúc đo lường bậc hai này chính là các yếu tố thể hiện tâm lý tích cực và có thể tác động tới các mặt khác nhau của người sở hữu nó như tác động tới thái độ làm việc, hành vi của người lao động, hay hiệu quả làm việc (Avey và các cộng sự, 2009) Trong nghiên cứu này, niềm hy vọng, tính kiên trì, sự lạc quan và sự tự tin vào năng lực bản thân được coi là các thang đo thành phần của vốn tâm lý. Các yếu tố này sẽ được đặt trong mối quan hệ giữa động lực làm việc và hiệu quả công việc để tìm ra liệu có bất cứ sự thay đổi nào đến các yếu tố trên trong phạm vi nghiên cứu ở các nhân viên công sở đang làm việc tại các công ty tọa lạc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Tự tin vào năng lực bản thân (self-efficacy) Tự tin vào năng lực bản thân được hiểu là niềm tin của một người vào khả năng của chính mình để thực hiện tốt bất cứ điều gì bằng sự nỗ lực (Wood và các cộng sự, 1996). Những người tự tin vào năng lực bản thân cao sẽ tiếp cận các tình huống mới một cách tự tin và kiên trì nỗ lực hết mình vì họ tin thành công sẽ đến; trong khi đó người thiếu tự tin vào năng lực bản thân nghĩ về thất bại và né tránh thử thách. Tự tin vào năng lực bản thân bao gồm sự tự tin vào khả năng suy nghĩ, học tập, đưa ra những quyết định phù hợp và phản ứng một cách hiệu quả để thay đổi. Tự tin vào năng lực bản thân liên quan đến sự nỗ lực trong công việc, hiệu quả, sự kiên trì bền bỉ khi đối mặt với thất bại, giải quyết vấn đề hiệu quả và khả năng kiểm soát (Judge và các cộng sự, 1998).
Theo Luthans và các cộng sự, (2007), tự tin vào năng lực bản thân đồng nghĩa với khái niệm tự tin và liên quan đến năm hành vi sau: (i) đặt mục tiêu cao, (ii) cởi mở đối với nhiệm vụ khó khăn, (iii) tự tạo động lực cho bản thân; (iv) nỗ lực hoàn thành mục tiêu; và (v) kiên trì vượt qua khó khăn. Barling và Beattie (1983) cho rằng niềm tin vào bản thân là một đặc tính quan trọng trong thành công bởi vì nếu nhân viên cảm thấy họ có thể làm được hoặc 8 có khả năng để hoàn thành nhiệm vụ cụ thể họ sẽ thực hiện tốt hơn. Niềm tin vào bản thân giúp người lao động có đủ sự kiên trì và kiên quyết vượt qua những thách thức trong công việc (Lent và các cộng sự, 1987). Khi có sự thay đổi mới trong công việc, niềm tin vào bản thân có thể giúp nhân viên thích nghi với những thay đổi một cách nhanh chóng và hiệu quả (Hill và các cộng sự, 1987).
Nhìn chung, khi nhân viên có niềm tin vào bản thân cao, họ sẽ tự tin về khả năng đạt được mục tiêu của mình và nỗ lực để đạt được mục tiêu đó (Wright, 2004). Tự tin vào năng lực bản thân đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của con người bởi nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi mà còn tác động nhất định đến một số yếu tố khác như mục tiêu và nguyện vọng, kết quả mong đợi, khuynh hướng tình cảm và nhận thức về những trở ngại và cơ hội. Tự tin vào năng lực bản thân ảnh hưởng đến suy nghĩ mang tính nhất thời hay có chiến lược, lạc quan hay bi quan, con đường chọn theo đuổi, mục tiêu đề ra cho bản thân và trách nhiệm thực hiện (Bandura, 2007). Trong những tình huống nhất định, cá nhân tự tin cao vào năng lực bản thân, nhưng lại thiếu tự tin trong những tình huống khác.
Yếu tố tự tin vào năng lực bản thân thay đổi theo các trạng thái phụ thuộc vào những yếu tố sau: (i) sự hiện diện hoặc vắng mặt của một cá nhân nào đó; (ii) năng lực nhận thức của những người khác, đặc biệt nếu họ là đối thủ cạnh tranh; (iii) tâm lý tham gia của kẻ yếu thế (thất bại) hơn là sự thành công; (iv) trạng thái sinh lý như mệt mỏi, lo âu, thờ ơ, hoặc chán nản. Vì vậy theo Lunenburg (2011), doanh nghiệp nên đưa ra các cơ hội đào tạo và phát triển cho những nhân viên có niềm tin vào bản thân cao.