Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình. Chương 2: Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý dự án của công ty TNHH Lộc Phúc trong giai đoạn 2010-2015. Chương 3: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác tư vấn quản lý dự án của công ty TNHH Lộc Phúc. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC TƢ VẤN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1.1 Tổng quan về dự án đầu tƣ 1.
Khái niệm về dự án đầu tư. 01/01/2015 [14]: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”. Theo một quan điểm khác thì dự án đầu tư là tổng thể các giải pháp nhằm sử dụng các nguồn tài nguyên hữu hạn sẵn có để tạo ra những lợi ích thiết thực cho nhà đầu tư và cho xã hội.
Dự án đầu tư có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: Xét trên tổng thể chung của quá trình đầu tư: dự án đầu tư có thể được hiểu như là kế hoạch chi tiết triển khai các hoạt động đầu tư nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra trong một khoảng thời gian nhất định, hay đó là một công trình cụ thể thực hiện các hoạt động đầu tư. Xét về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ hoạch định việc sử dụng vốn, vật tư, lao động nhằm tạo ra những sản phẩm mới cho xã hội. Xét trên góc độ kế hoạch hoá: Dự án đầu tư là kế hoạch chi tiết để thực hiện chương trình đầu tư xây dựng nhằm phát triển kinh tế xã hội làm căn cứ cho việc ra quyết định đầu tư và sử dụng vốn đầu tư.
Xét trên góc độ phân công lao động xã hội: Dự án đầu tư thể hiện sự phân 4 công, bố trí lực lượng lao động xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế khác nhau với xã hội trên cơ sở khai thác các yếu tố tự nhiên. Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động cụ thể, có mối liên hệ biện chứng, nhân quả với nhau để đạt được mục đích nhất định trong tương lai. Dự án đầu tư là công cụ để tiến hành các hoạt động đầu tư, do đó bên trong nó chứa các yếu tố cơ bản của hoạt động đầu tư. Trước hết, dự án đầu tư phải thể hiện rõ mục tiêu đầu tư, có thể là mục tiêu dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn hoặc là mục tiêu chiến lược hay là mục tiêu trước mắt.
Mục tiêu trước mắt được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể như năng lực sản xuất, quy mô sản xuất hay hiệu quả kinh tế. Còn mục tiêu lâu dài có thể là các lợi ích kinh tế cho xã hội mà dự án đầu tư phải mang lại. Hai là, nguồn lực và cách thức để đạt được mục tiêu. Nó bao gồm cả các điều kiện và biện pháp vật chất để thực hiện như vốn, nhân lực, công nghệ.
Ba là, với khoảng thời gian bao lâu thì các mục tiêu có thể đạt được và cuối cùng là ai có thể thực hiện hoạt động đầu tư này và kết quả của dự án. Đặc điểm của dự án đầu tư. Các dự án đầu tư xây dựng công trình đều có chung đặc điểm như sau: Mỗi dự án phải có một hoặc một số mục tiêu rõ ràng. Thông thường người ta cố gắng lượng hóa mục tiêu thành các chỉ tiêu cụ thể cho từng dự án.
Mỗi dự án là một quá trình tạo ra một kết quả cụ thể. Nếu kết quả cuối cùng mà không phải là kết quả của một tiến trình thì kết quả đó không được gọi là dự án. điểm kết thúc. Chu kỳ hoạt động của dự án.
Chu kỳ hoạt động của dự án đầu tư xây dựng công trình thường có Giai đoạn chuẩn dự án, Giai đoạn và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, cụ thể: a. Giai đoạn chuẩn bị dự án: Giai đoạn này tạo tiền đề và quyết định sự thành công hay thất bại của các giai đoạn sau. Trong giai đoạn chuẩn bị dự án vấn đề chất lượng, sự chính xác của các kết quả nghiên cứu, việc tính toán và lập dự toán là quan trọng nhất. Thực hiện tốt công tác chuẩn bị dự án sẽ tạo tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo đạt hiệu quả kinh tế (tránh các chi phí không cần thiết), tạo điều kiện cho quá trình hoạt động của dự án được thuận lợi.
Các dự án đầu tư đều phải trải qua giai đoạn chuẩn bị dự án và cần phải chuẩn bị chu đáo các công việc sau đây: Nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và xác định quy mô đầu tư để sơ bộ hình thành dự án đầu tư; Điều tra khảo sát, chọn địa điểm xây dựng; Lập thẩm định dự án đầu tư; 6 Làm các thủ tục cần thiết như: vay vốn, cấp đất, xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị. và điều kiện để triển khai dự án đầu tư. Giai đoạn thực hiện dự án: Dự án được thực hiện phải đảm bảo hiệu quả đầu tư sao cho thời gian thực hiện là ngắn nhất, chi phí nhỏ nhất và đạt được hiệu quả cao nhất. Thời gian thực hiện đầu tư phụ thuộc vào rất nhiều công tác chuẩn bị dự án, việc quản lý thực hiện đầu tư và quản lý thực hiện các hoạt động khác có liên quan trực tiếp đến kết quả của quá trình thực hiện đầu tư.
Giai đoạn thực hiện đầu tư giữ vai trò quyết định trong việc thực hiện quá trình đầu tư nhằm vật chất hóa vốn đầu tư thành tài sản cố định cho nền kinh tế Quốc dân. Giai đoạn thực hiện đầu tư cần phải làm tốt các công tác chuẩn bị như: Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước; Đền bù, tái định cư để giải phóng mặt bằng và chuẩn bị mặt bằng xây dựng; Tổ chức lựa chọn đơn vị Tư vấn khảo sát thiết kế, lập tổng dự toán xây dựng và thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, dự toán; Tổ chức đấu thầu lựa chọn Tư vấn giám sát, Nhà thầu thi công xây dựng (thông qua đấu thầu xây dựng), thương thảo, ký kết hợp đồng xây dựng, hợp đồng giám sát thi công xây dựng; Triển khai xây dựng và giám sát thi công xây dựng công trình. Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng: Giai đoạn vận hành các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư nhằm đạt được mục tiêu của dự án. Nếu các kết quả của giai đoạn thực hiện đầu tư tạo thành đảm bảo tính đồng bộ, chất lượng tốt, đúng tiến độ thì hiệu quả hoạt động của các kết quả này và mục tiêu của dự án chỉ còn phụ thuộc trực tiếp vào việc tổ chức quản lý hoạt động các kết cấu đầu tư.
Việc thực hiện tốt giai đoạn chuẩn bị dự án và giai đoạn thực hiện đầu tư sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý, khai thác. Nội dung công việc của giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng bao gồm: Nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác; Thực hiện việc kết thúc xây dựng; Vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình; 7 Bảo hành chất lượng công trình; Quyết toán vốn đầu tư công trình; Phê duyệt quyết toán. Công trình chỉ được bàn giao toàn bộ cho đơn vị quản lý sử dụng khi đã xây dựng hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt và nghiệm thu đạt chất lượng. Hồ sơ bàn giao kèm theo phải đầy đủ theo quy định và nộp lưu trữ theo quy định của Pháp luật về lưu trữ Nhà nước.
Nghĩa vụ hợp đồng xây dựng chỉ được chấm dứt khi hết thời hạn bảo hành công trình. Sau khi nhận bàn giao công trình, CĐT có trách nhiệm khai thác, sử dụng đầy đủ năng lực công trình, hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật đã đề ra trong dự án. Chu kỳ hoạt động dự án: Thời gian thực hiện dự án xây dựng thường theo tiến trình chậm – nhanh – chậm. Tỷ lệ % thực hiện dự án Chậm Nhanh Chậm Thời gian Điểm bắt đầu khởi đầu triển khai kết thúc Điểm kết thúc Hình 1.
Chu kỳ hoạt động của dự án Mỗi dự án đều sử dụng nguồn lực gồm nhân lực, nguyên vật liệu, tài chính và nguồn lực này bị hạn chế; Đều mang tính độc đáo đối với mục tiêu và phương thức thực hiện dự án, không có sự lặp lại hoàn toàn giữa các dự án [15]. Nhiệm vụ quản lý đầu tư xây dựng. Nhiệm vụ của công tác quản lý đầu tư xây dựng cần phải được phân biệt trên hai góc độ: Quản lý Nhà nước và Quản lý cơ sở. Quản lý Nhà nước đối với công tác đầu tư xây dựng Nhiệm vụ của quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư bao gồm: Xây dựng các chiến lược phát triển, có kế hoạch định hướng cho các địa phương và vùng lãnh thổ, xác định vùng trung tâm làm cơ sở hướng dẫn đầu tư cho các nhà đầu tư; 8 b.
Quản lý cơ sở: Tổ chức thực hiện từng công cụ đầu tư cụ thể của đơn vị theo dự án đã được duyệt thông qua các hợp đồng ký kết của các đơn vị có liên quan theo pháp luật hiện hành; Quản lý sử dụng các nguồn vốn từ khi lập dự án, thực hiện đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư theo yêu cầu đề ra trong dự án được duyệt; Quản lý chất lượng, tiến độ và chi phí hoạt động đầu tư ở từng giai đoạn khác nhau, từng hoạt động khác nhau của dự án và toàn bộ dự án.