CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Vấn đề và dạy học giải quyết vấn đề 1. Vấn đề là gì? Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường gặp những hiện tượng, những tình huống, những câu hỏi mà ta vẫn gọi là vấn đề. Ví dụ như vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho người thất nghiệp, vấn đề làm thế nào để nâng cao chất lượng trong một giờ dạy ở bậc THPT… Vậy vấn đề là gì? Theo từ điển Tiếng Việt thì vấn đề là điều cần được xem xét, nghiên cứu, giải quyết [11, tr.
1140], như vậy nghĩa của nó rất rộng. Trong khuôn khổ luận văn này khái niệm vấn đề được đặt trong khuôn khổ quá trình dạy học nói chung và dạy học môn Toán nói riêng. Có rất nhiều quan điểm về vấn đề trong dạy học. Sau đây chúng ta cùng phân tích một vài quan điểm đó.
Vấn đề (Problem) là một tình huống đặt ra cho một cá nhân hay một nhóm cá nhân có nhu cầu giải quyết mà đôi khi đối mặt với tình huống này họ không thấy ngay con đường dẫn tới lời giải và phương pháp giải không vượt quá xa khả năng của họ. Một tình huống được gọi là vấn đề khi và chỉ khi nó thỏa mãn ba điều kiện sau: Một là có nhu cầu giải quyết. Hai là không có sẵn lời giải. Ba là không vượt quá khả năng của người học [2].
Vấn đề là một câu hỏi nảy ra hay được đặt ra cho chủ thể mà chủ thể chưa biết lời giải và phải tìm tòi lời giải một cách sáng tạo, nhưng chủ thể đã có sẵn một vài phương tiện ban đầu để sử dụng thích hợp vào việc tìm tòi lời giải đó [9, tr. Chủ thể ở đây được hiểu là người học. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Một bài toán được gọi là vấn đề nếu chủ thể chưa biết một thuật giải nào đó có thể áp dụng để tìm ra phần tử chưa biết của bài toán đó [6, tr. Qua phân tích một số quan điểm trên, chúng tôi thấy các khái niệm có thể trình bày khác nhau nhưng đều có chung các đặc điểm là học sinh có nhu cầu và có khả năng giải quyết nhưng chưa thể làm được ngay.
Do vậy chúng tôi đề xuất khái niệm vấn đề như sau: Vấn đề là những câu hỏi hay nhiệm vụ đặt ra mà việc giải quyết chúng chưa có quy luật cũng như những tri thức, kỹ năng sẵn có chưa đủ để giải quyết mà còn khó khăn, cản trở cần vượt qua. Các đặc điểm của vấn đề trong dạy học: Vấn đề mang tính triết học, vì mỗi vấn đề đều chứa đựng những mâu thuẫn giữa nhiệm vụ của học sinh và những kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng sẵn có của họ. Giải quyết các mâu thuẫn trên chính là con đường phát triển nhận thức cho học sinh. Vấn đề mang tính tâm lí học, vì tư duy tích cực chỉ nảy sinh khi có nhu cầu, tức là đứng trước những khó khăn về nhận thức.
Rubeistein cho rằng: “Tư duy sáng tạo luôn bắt đầu bằng tình huống có vấn đề” [7, tr. Vấn đề mang tính giáo dục, vì vấn đề phải vừa sức với học sinh. Nó phù hợp với nguyên tắc tự giác và tích cực của học sinh trong các hoạt động. Hơn nữa nó còn khêu gợi sự ham muốn tìm tòi khám phá, qua đó học sinh được học cách khám phá, giải quyết những vấn đề một cách khoa học.
Đồng thời, góp phần bồi dưỡng cho học sinh phát triển năng lực, trí tuệ và những đức tính cần thiết của người lao động sáng tạo như tính chủ động, tích cực, cần cù vượt khó, tính có kế hoạch và tự kiểm tra, đánh giá quá trình. Phát hiện vấn đề là chủ thể nhận ra cái mình chưa biết trước đó và mong muốn được biết. Giải quyết vấn đề là thiết lập những phương pháp, sử dụng các công cụ như kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…để vượt qua những khó khăn trở ngại đã được đặt ra. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Quá trình giải quyết vấn đề trong dạy học Toán Quá trình giải quyết vấn đề là một chuỗi các thao tác thể hiện ở sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Quá trình giải quyết vấn đề trong dạy học môn Toán Tìm hiểu bài toán, phát hiện vấn đề Khám phá Chọn phương pháp và chiến lược Giải Đánh giá kết quả, phát triển bài toán Tìm hiểu bài toán, phát hiện vấn đề là khâu xem xét những yếu tố nào đã biết, cần tìm yếu tố nào hay chứng tỏ một điều gì. Khám phá bài toán là khâu tìm những mối liên hệ giữa những cái đã biết và cái phải tìm, liên tưởng tới những tri thức đã học, những bài toán có liên quan. Từ đó sử dụng các phương pháp, kĩ thuật như suy luận hướng đích, quy lạ về quen, tương tự hóa… Chọn phương pháp và chiến lược giải bài toán là sự kế thừa các thao tác trong khâu khám phá.
Tất cả các thao tác này sẽ dẫn đến sự hình thành một hay nhiều hướng giải quyết và học sinh chọn một giải pháp khả thi và hiệu quả nhất. Đánh giá kết quả, mở rộng bài toán là khâu học sinh cần kiểm tra các phép toán, các suy luận có lí, đồng thời đề xuất những vấn đề mới phát sinh nhờ sự xem xét tương tự, lật ngược vấn đề, khái quát hóa…Có thể coi đây là khâu cuối cùng của quy trình cũ và là sự khởi đầu của một quy trình mới. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy giải quyết vấn đề là một quy trình mà các bước đã được sắp xếp theo trình tự nhất định. Năng lực giải quyết vấn đề 1.
Năng lực Trong lịch sử nghiên cứu có rất nhiều quan niệm về năng lực dẫn đến cách tiếp cận và nghiên cứu cũng có sự khác biệt. Theo quan điểm của trường phái di truyền học ở phương Tây cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 thì năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính bẩm sinh di truyền của gen mà không phụ thuộc vào điều kiện xã hội cũng như các hoạt động hàng ngày của con người. Theo phái tâm lí học hành vi thì năng lực của con người là sự thích nghi về mặt sinh vật đối với môi trường sống. Sau này một số người theo quan điểm xã hội học cho rằng năng lực được quyết định bởi môi trường xã hội.
Nhìn chung các cách tiếp cận và nghiên cứu trên bước đầu cho chúng ta một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên mặt hạn chế là họ cho rằng năng lực là một lượng bất biến, khó có thể thay đổi theo sự phát triển về mặt sinh học của con người và ít phụ thuộc vào môi trường xã hội. Các nhà tâm lí học Mácxit và Xô viết khi nghiên cứu về năng lực lại cho rằng năng lực là tổng hòa của hai yếu tố. Yếu tố thứ nhất là đặc điểm tâm lí của cá nhân còn yếu tố thứ hai là kết quả của một hoạt động nào đó.
Các- Mác cho rằng: “Sự khác nhau giữa năng lực của cá nhân thể hiện qua sự phân công lao động và kết quả lao động”[C. Mac, Bản thảo kinh tế triết học năm 1884, NXB Sự thật, Hà Nội, 1962, Tr. Còn Angel cho rằng: “Lao động sáng tạo ra con người”[1, tr. Như vậy theo quan điểm này thì năng lực không những phụ thuộc vào yếu tố bẩm sinh, bản năng mà năng lực còn hình thành và phát triển khi con người tham gia các hoạt động học tập để làm tiền đề cho các hoạt động xã hội.
Năng lực là một lượng có thể biến đổi thông qua hoạt động. Theo Rubinstein năng lực là điều kiện cho hoạt động có ích của con người. Năng lực là toàn bộ những thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với một hoạt động có ích lợi xã hội nhất định [17, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở nước ta, các công trình nghiên cứu về năng lực đều nhấn mạnh đến tính có ích của hoạt động.
Theo từ điển tiếng Việt, năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó [14. Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [3, tr. Năng lực là tổ hợp các đặc điểm tâm lý của một con người. Tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định và tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy.
Qua phân tích một số quan điểm trên, chúng tôi cho rằng năng lực là tổ hợp các đặc điểm tâm lí của một con người được vận hành vào một hoạt động nào đó và đảm bảo hoạt động đó có kết quả tốt. Các mức độ của năng lực Năng lực có thể chia là ba mức độ. Mức độ thứ nhất là năng lực cơ bản. Đó là khả năng của một cá nhân ở một thời điểm nào đó có thể hoàn thành một nhiệm vụ nào đó mà nhiều người khác có cùng điều kiện hoàn cảnh cũng có thể thực hiện được.
Ví dụ như một học sinh lớp 11 phát hiện ra sự khác nhau giữa quy tắc cộng và quy tắc nhân, đồng thời trong lớp cũng có nhiều học sinh phát hiện ra điều này thì ta có thể xem học sinh đó có năng lực cơ bản. Mức độ thứ hai là tài năng. Đó là khả năng của cá nhân có thể hoàn thành một nhiệm vụ nào đó một cách sáng tạo nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ hoặc không vượt quá xa những thành tựu của xã hội tại thời điểm đó. Ví dụ một học sinh lớp 6 có thể tự giải được bài toán của học sinh lớp 9 có thể coi là một tài năng Toán học.
Kì thủ Nguyễn Ngọc Trường Sơn là tài năng về cờ vua, các học sinh tham dự các kì thi Olympic Quốc tế cũng có thể coi là những tài năng… 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mức độ cao nhất của năng lực là thiên tài. Đó là một năng lực đặc biệt mà kết quả của sự hoạt động vượt xa thành tựu của xã hội và mang ý nghĩa lịch sử đối với loài người. Ví dụ như Niu-tơn, Anh-xtanh, Mô-za… là những thiên tài trong lĩnh vực của họ. Hai loại năng lực Năng lực có thể chia thành hai loại là năng lực chung và năng lực chuyên môn.