Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực đội ngũ cán bộ Chương 2: Thực trạng năng lực đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ cấp xã trên địa bàn huyện Quảng Xương. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ cấp xã trên địa bàn huyện Quảng Xương. 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÁN BỘ 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về năng lực Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD) quan niệm năng lực (NL) là “khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể.12] Chương trình Giáo dục Trung học (GDTH) bang Québec, Canada năm 2004 xem NL “là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực.” [Dẫn theo 5, tr. Denyse Tremblay cho rằng NL là “khả năng hành động, thành công và tiến bộ dựa vào việc huy động và sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để đối mặt với các tình huống trong cuộc sống. Weinert, NL là “tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp.” [dẫn theo 5, tr. Việc giải thích NL (competency) bằng khái niệm khả năng (ability, capacity, possibility) không thật chính xác.
Theo Từ điển Tiếng Việt, khả năng là “1. Cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện nhất định; 2. Cái vốn có về vật chất hoặc tinh thần để có thể làm được việc gì.488] Dù theo nghĩa 1 hay nghĩa 2 thì cũng không nên quy NL vào phạm trù khả năng vì người có NL trong một lĩnh vực nào đó chắc chắn sẽ thực hiện thành công loại hoạt động tương ứng; trong khi khả năng là cái tồn tại ở dạng tiềm năng, có thể biến thành hiện thực nhưng cũng có thể không biến thành hiện thực. Tài liệu hội thảo CT giáo dục phổ thông (GDPT) tổng thể trong CT GDPT mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) xếp NL vào phạm trù 5 hoạt động khi giải thích: “NL là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.
để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định” [8, tr. Từ điển Bách khoa Việt Nam: “NL là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó.41] Năng lực là vấn đề phức tạp, được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa nhưng cho đến nay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực. Ngay trong tâm lý học cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả và đã đưa ra nhiều khuynh hướng khi bàn về năng lực. Khuynh h ớng thứ nhất: xem năng lực như là một tổ hợp những thuộc tính nói chung của cá nhân để hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó.G cho rằng: “Năng lực là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được kết quả cao” [10] Khuynh h ớng thứ hai: xem năng lực là tổ hợp các phẩm chất tâm - sinh lý của cá nhân đảm bảo đạt kết quả cao ở một hoạt động nào đó.
Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu. Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích [9].
Các nhà Tâm lý học Việt Nam quan niệm: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một loại hình hoạt động cụ thể, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt” [5]. 6 Nhìn chung các quan niệm về năng lực theo hai hướng tiếp cận trên đây đều coi năng lực là tổ hợp các phẩm chất tâm và sinh lí tạo ra tiền đề, điều kiện bảo đảm cho hoạt động của con người đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, khi luận giải các thành tố tâm lý của năng lực chưa thật đầy đủ, mối quan hệ giữa các thành tố chưa rõ ràng. Do đó, quá trình xem xét, đánh giá cũng như việc bồi dưỡng, rèn luyện, nâng cao năng lực hoạt động của con người gặp nhiều khó khăn và khó chuyên sâu theo từng lĩnh vực cụ thể.
Khuynh h ớng thứ ba: xem năng lực là tổ hợp của ba thành tố cơ bản: kiến thức, thái độ và kỹ năng. Cách tiếp cận này được xem là hướng tiếp cận mới về năng lực và được sử dụng phổ biến hiện nay. Khi nghiên cứu về năng lực chuyên môn trong hoạt động nghề nghiệp Tác giả Christian Battal cho rằng: năng lực chuyên môn là những năng lực nhận thức, năng lực thực tiễn và năng lực hành vi mà một cá nhân đạt được. Năng lực chuyên môn bao gồm “kiến thức”, “kỹ năng” và “hành vi th i độ” cần thiết để đảm nhiệm một vị trí hoặc thực hiện một hoạt động.
Năng lực có được thông qua đào tạo và qua kinh nghiệm nghề nghiệp của chủ thể [5]. Trên cơ sở nghiên cứu các khuynh hướng tiếp cận khác nhau về năng lực của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy rằng, hướng tiếp cận thứ ba về năng lực là khuynh hướng hiện đại, đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà tâm lý, giáo dục; đáp ứng được yêu cầu của các lĩnh vực hoạt động nói chung, hoạt động lãnh đạo quản lý nói riêng. Xuất phát từ cách tiếp cận năng lực ứng xử là một loại năng lực chuyên biệt, gắn với hoạt động nghề nghiệp. Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả khái quát, quan niệm về năng lực theo cách tiếp cận này như sau: “Năng lực là tổ h p của các thành tố kiến thức, th i độ và kỹ năng của chủ thể đ p ứng với yêu cầu hoạt động nhất đ nh, đ m b o cho hoạt động ấy đạt hi u qu cao” 7 Kiến thức Năng lực Kỹ năng Thái độ Hình 1.
Các yếu tố cấu thành năng lực “Kiến thức: là những hiểu biết chung hoặc chuyên ngành của một cá nhân cần thiết để đảm nhiệm một vị trí lao động nào đó.” [14] Kiến thức bao gồm kiến thức nghề nghiệp (kiến thức chuyên môn, kiến thức của lĩnh vực làm việc, kiến thức quản lý) và những kiến thức khác có ích cho công việc. Kiến thức là quá trình tích luỹ từ học tập, đào tạo, công việc và sự quan sát, học hỏi của cá nhân. Kiến thức chịu ảnh hưởng của yếu tố học vấn, kinh nghiệm, định hướng cá nhân. Kiến thức nghề nghiệp có thể xác định và định thành tiêu chuẩn được.
Những kiến thức liên quan khác khó xác định và khó đưa ra tiêu chuẩn để đánh giá. Kỹ năng thực hiện công việc: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế.” [14] “Kỹ năng là sự nắm vững cách sử dụng các công cụ, các kỹ thuật hay các phương pháp cần thiết để thực hiện một hoạt động cụ thể nào đó.” [14] Thái độ là: “Tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó” hay “Cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình” 8 Thái độ trong công việc: Thái độ là cách suy nghĩ (nhận thức), cách ứng xử (ý thức) trong công việc. Thái độ làm việc ảnh hưởng đến tinh thần làm việc, xu hướng tiếp thu kiến thức trong quá trình làm việc. Năng lực của cá nhân phản ánh mức độ đạt được của kiến thức, thái độ, kỹ năng và chất l ng, hi u qu trong một hoạt động nào đó của họ.
Người có năng lực được biểu hiện ở sự nhanh chóng chiếm lĩnh tri thức, có thái độ tích cực, tâm huyết với lĩnh vực hoạt động; từ đó có sự thuần thục các kỹ năng của hoạt động làm cho hoạt động diễn ra đạt hiệu quả cao nhất. Các loại năng lực - Năng lực lãnh đạo: Theo Từ điển tiếng Việt quan niệm: “Lãnh đạo: đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức vận động thực hiện đường lối đó” [14] Có thể hiểu năng lực lãnh đạo là khả năng của một tập thể hay một cá nhân có khả năng đề ra mục tiêu, chủ trương, đường lối và khả năng tổ chức, dẫn dắt tập thể thực hiện thắng lợi mục tiêu, chủ trương, đường lối đó. Ví dụ: Năng lực lãnh đạo của Đảng là tổng hợp những khả năng, điều kiện chủ quan của Đảng được tạo nên từ những yếu tố nội sinh, từ sự nỗ lực phấn đấu của bản thân Đảng cũng như mỗi tổ chức đảng để thực hiện thắng lợi chức năng, nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng, hay năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng là khả năng quán triệt, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và nhà Nước, nghị quyết; chỉ thị của cấp trên vào cơ sở. Đối với một các nhân: Năng lực lãnh đạo là tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và hành vi thái độ mà một nhà lãnh đạo cần có [11].
Để trở thành một nhà lãnh đạo, người lãnh đạo cần phải có các kiến thức nền tảng cũng như chuyên sâu để chỉ đạo, điều hành một tổ chức. Kĩ năng, kinh nghiệm, trải nghiệm trong các lĩnh vực cụ thể của lãnh đạo cũng vô cùng cần thiết. Các kĩ năng như: kĩ năng động viên khuyến khích, kĩ năng giải quyết vấn đề và ra 9 quyết định, kĩ năng gây ảnh hưởng. Hành vi thái độ là một yếu tố vô cùng quan trọng đảm bảo cho thành công của mỗi con người.
Trong công tác lãnh đạo, hành vi, thái độ có thể được coi là ứng xử của cấp trên đối với cấp dưới.