Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 1. Khái quát về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận 1. Khái niệm cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Theo tác giả Nguyễn Văn Kiều cho rằng “CQCM thuộc UBND quận huyện là đơn vị nhỏ nhất trong cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước, là cơ quan tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở cấp huyện và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên” [15]. Theo tác giả Võ Công Chánh cho rằng “CQCM thuộc UBND quận là cơ quan tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng QLNN về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên” [4] Trên cơ sở kế thừa khái niệm về CQCM thuộc UBND quận, theo tác giả CQCM thuộc UBND quận thường là các phòng, ban chuyên môn có nhiệm vụ giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau.
Mỗi phòng, ban sẽ đảm nhận các nhiệm vụ cụ thể liên quan đến lĩnh vực quản lý mà họ phụ trách. Khái niệm công chức và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Khái niệm CC thường được hiểu khác nhau ở mỗi quốc gia. Việc xác định ai là CC thường do các yếu tố sau quyết định: hệ thống thể chế chính trị, hệ thống thể chế hành chính, tính truyền thống, sự phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố văn hóa, lịch sử. Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia “CC thường có một số 8 đặc điểm chung: là công dân của nước đó, được tuyển dụng qua thi tuyển, xét tuyển, được bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc, được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [3,tr.
Ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Thị Hồng Hải “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng thông qua thi tuyển, bổ nhiệm vào một ngạch hoặc vị trí công việc, trong cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [13, tr. 42] Tác giả đồng quan điểm về khái niệm CC với những nhận định trên. Qua đó, từ khái niệm CC và khái quát về CQCM thuộc UBND quận, theo tác giả CC các CQCM thuộc UBND quận là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm, là những người làm việc trong các phòng, ban chuyên môn của UBND quận, có nhiệm vụ thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước trên địa bàn quận. Họ làm việc dưới sự chỉ đạo của UBND quận và có trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho UBND trong việc triển khai các chính sách, pháp luật và quyết định liên quan đến các lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, giáo dục, y tế, an ninh trật tự.
Đặc điểm công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận CC các CQCM thuộc UBND quận có các đặc điểm sau: CC các CQCM thuộc UBND quận là công dân Việt Nam được tuyển dụng lâu dài thông qua các kỳ thi CC và được bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong các CQCM thuộc UBND Quận. CC các CQCM thuộc UBND quận là những cá nhân được nhà nước trao quyền nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, phục vụ Nhà 9 nước, phục vụ nhân dân dưới sự quản lý, phân công nhiệm vụ của trưởng các phòng ban CQCM và UBND quận. CC các CQCM thuộc UBND quận là những người trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Những vấn đề chung về năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận 1.
Khái niệm năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Đến nay có rất nhiều nghiên cứu hay các nhận định về năng lực. Có một số nghiên cứu cho rằng “Năng lực là khả năng vận dụng các tài sản vốn có của một con người như kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất khác để đạt được mục tiêu trong một điều kiện hoàn cảnh cụ thể nào đó” [3, tr. Hay các nhà tâm lý cho rằng “Năng lực là biểu hiện của tư chất, thiên hướng, năng khiếu, tài năng” [3, tr. Theo tác giả Ngô Thành Can “Năng lực có thể hiểu là những khả năng của con người và những hành vi liên quan đến việc mang lại hiệu quả cho một tổ chức” [3, tr.
Theo tác giả Võ Công Chánh “Năng lực là khả năng bên trong của một cá nhân thể hiện thông qua 3 yếu tố đó là kiến thức, kỹ năng, thái độ và được vận dụng, phát triển trong quá trình làm việc để đạt được kết quả trong những hoàn cảnh, điều kiện nhất định” [4]. Năng lực có thể được phát triển và cải thiện thông qua học tập, rèn luyện và kinh nghiệm trong thực tế. Trong một môi trường làm việc, năng lực thường đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả công việc và khả năng thăng tiến của một người. Năng lực ảnh hưởng đến công việc theo nhiều cách quan trọng như hiệu suất làm việc, năng lực giúp cá nhân hoàn thành công việc một cách hiệu quả hơn.
Những người có năng lực cao thường đạt được kết quả 10 tốt hơn trong các nhiệm vụ được giao. Người có năng lực tốt có khả năng tư duy phản biện và tìm ra giải pháp cho các vấn đề phức tạp nhanh chóng hơn. Điều này rất quan trọng trong môi trường làm việc, nơi thường xuyên xuất hiện các thách thức, nhiều biến đổi. Những người có năng lực thường dễ dàng thích ứng với các thay đổi trong công việc, công nghệ mới, hoặc quy trình làm việc.
Năng lực tốt giúp con người có thể mở ra nhiều cơ hội thăng tiến, giúp cá nhân có cơ hội đảm nhận vai trò lãnh đạo hoặc các vị trí cao hơn trong tổ chức. Khi CC có năng lực và có thể thực hiện tốt công việc, họ thường cảm thấy hài lòng hơn và có động lực làm việc cao hơn. Tóm lại, năng lực không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả công việc mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển cá nhân và cơ hội nghề nghiệp. Như vậy trên cơ cở tham khảo các tài liệu, trong phạm vi nghiên cứu đề án, tác giả có thể khái quát Năng lực là khả năng của con người được thể hiện qua việc vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ của mình thực hiện công việc nhằm đạt mục tiêu và hiệu quả tốt nhất.
Cấu trúc của năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Tại bài viết phương pháp phát triển năng lực người học của Trần Thị Quỳnh Trang nhận định “Năng lực là tổ hợp kiến thức, kỹ năng và thái độ của cá nhân để tiến hành có hiệu quả, thể hiện qua cách vận dụng kiến thức linh hoạt, sử dụng kỹ năng thành thạo, sáng tạo và thể hiện thái độ phù hợp với yêu cầu của hoạt động, nhằm đảm bảo hoạt động tiến hành có hiệu quả” [30, tr. Hay tiếp cận mô hình tiêu chuẩn nghề nghiệp ASK từ những ý tưởng nền tảng của Benjamin Bloom, hiện nay ASK đã được chuẩn hóa thành một mô hình đánh giá năng lực nhân sự đầy đủ “Gồm ba nhóm chính kiến thức, kỹ năng và thái độ” [22]. 11 Như vậy, qua quá trình tham khảo, tác giả có thể đưa ra những nhận định năng lực thực thi công vụ của CC các CQCM thuộc UBND quận bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ. Trong đó: Kiến thức là tổng hợp những điều mà con người hiểu biết, tiếp nhận và lưu trữ được thể hiện qua bằng cấp, trình độ đào tạo và qua kiến thức, kinh nghiệm xã hội tích lũy và học hỏi được trong cuộc sống.
Đặc biệt, đối với CC thì kiến thức thể hiện rõ qua các mặt: kiến thức về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức về trình độ lý luận chính trị, trình độ quản lý Nhà nước và các kiến thức nền tảng về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội khác. Kỹ năng là khả năng của một người biết vận dụng những kinh nghiệm và kiến thức áp dụng vào thực tế một cách phù hợp nhất, hoàn thành công việc một cách hiệu quả theo mục tiêu đã đề ra. Thái độ là cách mà con người thể hiện cảm xúc của mình ra bên ngoài đối với công việc đang làm hay với người khác mà bản thân hài lòng hoặc không hài lòng. Đối với CC, đó là mức độ nhiệt tình, sự cố gắng nổ lực, ý thức trách nhiệm của CC đối với công việc mà họ đang thực hiện.
Như vậy, một CC có năng lực thực thi công vụ là người có kiến thức chuyên môn nhất định để hiểu rõ những việc mình đang và cần làm. Ngoài ra, họ cần có kỹ năng làm việc thành thạo để giải quyết hoàn thành công việc đúng tiến độ và thái độ chuẩn mực, tích cực, tinh thần lạc quan, cầu tiến để đảm bảo chất lượng hoàn thành công việc đạt hiệu quả tối ưu. Tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận Dựa theo những quy định về CC của Luật cán bộ công chức, Luật số 52/2019/QH14 của Quốc hội ngày 25 tháng 11 năm 2019 “Năng lực, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ” [26] và Nghị định 90/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 13 tháng 8 năm 2020 “Tiêu chí chung về đánh giá, xếp loại chất lượng công 12 chức” [7] cùng với những nội dung nghiên cứu về cấu trúc năng lực mà tác giả đã luận giải thì năng lực bao gồm các yếu tố cấu thành như kiến thức, kỹ năng, thái độ. Tuy nhiên, để việc đánh giá năng lực thực thi công vụ của CC các CQCM thuộc UBND quận mang tính chuẩn xác, công bằng cũng cần phải xét đến hiệu quả thực thi công vụ của họ.
Trên cơ sở lý luận đã phân tích và theo phạm vi nghiên cứu, tác giả phân định bốn nhóm tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của CC các CQCM thuộc UBND quận, như sau: Tiêu chí đánh giá về kiến thức Tiêu chí đánh giá về kỹ năng Tiêu chí đánh giá về thái độ Tiêu chí đánh giá về hiệu quả thực thi công vụ 1.