MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của các đô thị, chợ là bộ phận thiết yếu. Chợ là hình thức biểu hiện của thị trường, là nơi kết nối cung – cầu, đáp ứng nhu cầu của xã hội về sản xuất và tiêu dùng. Ở đây, chợ được hiểu là chợ truyền thống.
Chợ truyền thống tại các đô thị được gọi là chợ đô thị. Chợ đô thị đã có quá trình hình thành và phát triển từ lâu đời; đến nay đã có được mạng lưới rộng khắp, đa dạng, giữ vai trò quan trọng trong đời sống của dân cư và sự phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước. Cũng như các thực thể khác trong nền kinh tế, chợ đô thị luôn chịu tác động bởi nhiều yếu tố bên ngoài, nhất là trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển kinh tế thị trường ngày càng mạnh mẽ. Sự phát triển của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước với các hình thức thương mại mới, văn minh và hiện đại, quy mô lớn, trình độ cao đang đặt ra thách thức cạnh tranh rất lớn đối với các chợ truyền thống ở khu vực đô thị.
Cụ thể, chợ đô thị phải cạnh tranh với các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng mặt phố, tiệm tạp hóa, hàng rong và thương mại điện tử. Trong các năm qua, xu hướng lựa chọn của người tiêu dùng về nơi mua sắm đã có sự thay đổi; nhiều người, nhất là người có thu nhập cao, giới trẻ và người làm việc hành chính, văn phòng thường đến siêu thị, cửa hàng tiện lợi, trung tâm thương mại hay truy cập các trang web bán hàng trực tuyến để mua hàng thay vì đến chợ truyền thống. Một số chợ truyền thống có dấu hiệu thương nhân kinh doanh sa sút, mặt bằng bên trong chợ sử dụng không hết hoặc kém hiệu quả, người đi chợ giảm hoặc chỉ tập trung vào một số khoảng thời gian trong ngày chứ không liên tục, dàn đều. Tuy vậy, chợ truyền thống nói chung, chợ truyền thống ở đô thị nói riêng là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thương mại, thị trường của các địa phương; gắn liền với nó là công ăn việc làm, thu nhập và đời sống của một bộ phận lớn lao động xã hội và dân cư.
Họ là những người lao động quy mô nhỏ, thu nhập trung bình và thấp, rất nhạy cảm về kinh tế và xã hội. Hơn nữa, chợ là thực thể có tính xã hội, cộng đồng; dịch vụ chợ có tính chất của sản phẩm công cộng. Về khía cạnh văn hóa, xã hội; đại đa số người tiêu dùng ở các đô thị hiện nay vẫn còn giữ thói quen mua sắm hàng hóa ở các chợ truyền thống; khách du lịch cũng rất quan tâm và thích thăm quan, mua sắm ở các chợ địa phương. Việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình hội nhập quốc tế là yêu cầu tự nhiên, xác đáng của dân tộc và cư dân địa phương.
Do vậy, chợ truyền thống ở đô thị cần được tiếp tục tồn tại và phát triển. Đòi hỏi này 2 cần được thực hiện không chỉ đơn thuần thông qua các doanh nghiệp mà vai trò của Nhà nước rất quan trọng. Trong môi trường cạnh tranh, chợ đô thị ở thành phố (TP) Đà Nẵng các năm qua đã có những thay đổi tích cực; tuy nhiên, tình trạng kém thu hút thương nhân và khách hàng tham gia hoạt động chợ cũng đã xuất hiện nhiều hơn. Việc quản lý hoạt động của chợ chưa tập trung hướng đến đáp ứng nhu cầu của các đối tượng tham gia chợ.
Chất lượng dịch vụ của các chợ đô thị chưa đảm bảo, chưa tạo được sự khác biệt và khai thác được những lợi thế so sánh của chợ so với các loại hình thương mại khác. Điều đó phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh (NLCT) của các tổ chức kinh doanh chợ đô thị (TCKDCĐT) và vai trò của Nhà nước trong việc định hướng, ban hành cơ chế, chính sách và thực hiện chức năng quản lý đối với thị trường nói chung, chợ nói riêng. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao NLCT của các tổ chức kinh doanh chợ là cần thiết, đáp ứng yêu cầu bức thiết của thực tiễn quản lý kinh tế ở khu vực đô thị trên địa bàn TP Đà Nẵng hiện nay cũng như trong tương lai. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được công bố ở trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Vấn đề cạnh tranh đã được đề cập đến trong kinh tế chính trị học cổ điển (từ thế kỷ XIX) bởi Adam Smith, David Ricardo, Cac Mac.
Lúc bấy giờ, cạnh tranh được nghiên cứu với giả thiết là thị trường cạnh tranh hoàn hảo. Các chủ thể kinh tế có thể phát huy lợi thế tuyệt đối hoặc/và lợi thế tương đối (so sánh) để thắng lợi trong cạnh tranh. Đến đầu thế kỷ XX, E. Chamberlin, với tác phẩm “The theory of monopolistic competition” (Lý thuyết cạnh tranh độc quyền, 1933) đã khởi xướng mô hình cạnh tranh độc quyền và trở thành cơ sở lý luận cho tử tưởng cạnh tranh bằng sự khác biệt.
Trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã có một số phát triển về mặt lý thuyết liên quan đến cạnh tranh, nổi bật là mô hình cạnh tranh trong kinh tế học tổ chức (hay tổ chức công nghiệp, IO) được tổng quát hóa thông qua mối quan hệ giữa cơ cấu ngành (Structure of industry), sự vận hành hay chiến lược (Conduct/strategy) của doanh nghiệp và hiệu quả kinh doanh (Performance) của ngành, còn được gọi là mô hình SCP hay mô hình Bain/Mason (Jose S. Bain, 1956; Edward Mason, 1939). Theo đó, hiệu quả kinh doanh phụ thuộc chủ yếu vào cơ cấu ngành mà các doanh nghiệp đang hoạt động. Chiến lược của các doanh nghiệp cùng 3 ngành về cơ bản là giống nhau; hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp cũng gần như nhau.
Jay Barney (1986) và M. Porter (1981) gọi đây là hiệu quả kinh doanh ngành. Các lý thuyết và mô hình cạnh tranh gắn với kinh tế học tổ chức chú trọng đến các yếu tố môi trường kinh doanh bên ngoài; chưa đề cập sâu đến yếu tố nội lực bên trong của mỗi doanh nghiệp. Hạn chế này được khắc phục nhờ sự ra đời của lý thuyết về nguồn lực của doanh nghiệp mà đại biểu tiên phong là Birger Wernerfelt với tác phẩm “Resource-based view of the firm” (Quan điểm dựa vào nguồn lực của doanh nghiệp, 1984).
Nguồn lực là yếu tố quyết định đến lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nguồn lực bao gồm tất cả các tài sản, các năng lực, các quy trình tổ chức, các thuộc tính của doanh nghiệp, thông tin, tri thức… được kiểm soát bởi doanh nghiệp mà cho phép doanh nghiệp nhận ra và thực hiện các chiến lược để cải thiện hiệu quả và hiệu lực của nó (Daft, 1983). Các nguồn lực có thể bao gồm nguồn lực hữu hình như là tài chính, tổ chức, vật chất và công nghệ (J. Baney, 1991) và nguồn lực vô hình như nhân sự, sáng tạo và danh tiếng (R.
Lý thuyết nguồn lực là sự bổ sung cho mô hình IO và mô hình Chamberlin về cạnh tranh. Tuy nhiên, hạn chế của nó là vẫn dựa trên sự cân bằng, không tập trung vào quá trình động của thị trường (Jacobson 1992). Cũng vào những năm cuối thể kỷ XX, M. Porter đã xuất bản các tác phẩm kinh điển như: “Competitive strategy” (Chiến lược cạnh tranh, 1980), “Competitive advantage” (Lợi thế cạnh tranh, 1985) và “Competitive advantage of nations” (Lợi thế cạnh tranh quốc gia, 1990).
Porter đã lý giải một cách tường minh các khái niệm như chiến lược cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và phân tích sâu sắc các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh. Các mô hình phân tích cạnh tranh nổi bật của Porter là mô hình 5 lực cạnh tranh, mô hình chuỗi giá trị và mô hình viên kim cương. Với sự thay đổi lớn trong môi trường cạnh tranh, trên thị trường ngày nay cầu đã có vai trò gây áp lực lên cung; khách hàng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy, bên cạnh các nghiên cứu nêu trên, lý thuyết marketing đã có ảnh hưởng quan trọng trong nghiên cứu và hoạch định chiến lược cạnh tranh.
Tác giả điển hình và nổi tiếng trong lĩnh vực này là Philip Kotler. Với quan điểm trọng khách hàng, các doanh nghiệp cần dựa vào thị trường, phải hiểu khách hàng và thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng; đó chính là yếu tố quyết định tạo nên thành công trong cạnh tranh. 4 Trên cơ sở các tư tưởng và công trình nghiên cứu nêu trên, trong lĩnh vực quản trị kinh doanh và quản lý kinh tế đã có nhiều giáo trình được xuất bản làm tài liệu giảng dạy và học tập trong các trường đại học. Có thể nêu ra một số tác giả có uy tín như: Michael A.
Duane Ireland và Robert E. Porter, Philip Kotler. Từ những năm cuối thế kỷ XX đến nay, có nhiều bài báo quan trọng viết về lý thuyết nguồn lực, lý thuyết năng lực động và các mô hình nghiên cứu định lượng để đo lường NLCT của doanh nghiệp. Một số bài báo có giá trị học thuật lớn và điển hình như: The Resource – Based Theory of competitive advantage: Implications for strategy fomulation của Robert M.
Grant (1991); Firm Resources and Sustained Competitive Advantage của Barney, J. (1991); The comparative Advantage theory of competition, Shelby D. Morgan (1995); Dynamic Capabilities and Strategic Management, David J. Teece, Gary Pisano and Amy Shuen (1997).
Các bài báo đã cho thấy rằng NLCT của doanh nghiệp trước hết là do các yếu tố nguồn lực bên trong của doanh nghiệp tạo ra, nhưng nguồn lực ấy phải được huy động sao cho có thể phát huy tốt nhất các thế mạnh, khắc phục các điểm yếu đồng thời tận dụng tối đa cơ hội và né tránh được các đe dọa của môi trường bên ngoài, hướng đến thỏa mãn cao nhất nhu cầu của khách hàng đồng thời phản ứng một cách thích hợp trước các chiến lược, sách lược của đối thủ cạnh tranh để giành chiến thắng. Về các yếu tố nguồn lực tạo nên NLCT, các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm nguồn NLCT cốt lõi (core competitive). Những nguồn lực như vậy là yếu tố quyết định tạo nên lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp. Khi nghiên cứu về NLCT, khái niệm năng lực động (academic capabilities) đã được đề xuất.
và các cộng sự (1997), năng lực động là khả năng tích hợp, xây dựng và định dạng lại những tiềm năng của doanh nghiệp để đáp ứng với thay đổi của môi trường kinh doanh.