Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2001-2010, tỉnh Tây Ninh ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng với tổng sản phẩm nội địa (GDP) tăng bình quân 14.1%/năm trong giai đoạn 2001-2005 và đạt 14.2%/năm giai đoạn 2006-2010. Con số này cao gấp gần 2 lần mức tăng trưởng bình quân 7.01%/năm của cả nước cùng thời kỳ. Đến năm 2010, GDP bình quân đầu người của tỉnh đạt 27.1 triệu đồng (tương đương 1,390 USD), vượt mức bình quân chung của cả nước là 1,168 USD khoảng 19%.

Tuy nhiên, nền kinh tế Tây Ninh vẫn bộc lộ những rào cản phát triển nội tại nghiêm trọng. Tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế năm 2010 vẫn chiếm tới 26.8% GDP, cao hơn nhiều so với mức trung bình 20.4% của cả nước và cách biệt rất lớn với mức 7.0% của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Quá trình công nghiệp hóa diễn ra chậm khi tỷ trọng công nghiệp và xây dựng chỉ đạt 29.0%, cách xa mục tiêu kế hoạch 37.0% mà tỉnh đề ra.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là phân tích toàn diện các nhân tố thúc đẩy và rào cản tăng trưởng kinh tế, nhận diện những yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh (NLCT) của tỉnh Tây Ninh. Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi không gian địa bàn tỉnh Tây Ninh trong mối tương quan so sánh với các tỉnh Vùng Đông Nam Bộ (đặc biệt là Bình Dương và Đồng Nai) suốt giai đoạn 2001-2010, định hướng chiến lược đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực tiễn vững chắc giúp địa phương ban hành các chính sách đột phá nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP 15.0 - 15.5%/năm và cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu áp dụng khung lý thuyết về Năng lực cạnh tranh quốc gia của Giáo sư Michael E. Porter (năm 1990), kết hợp với mô hình điều chỉnh phân tích NLCT cấp địa phương do Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh phát triển năm 2011. Khung phân tích xác định NLCT của một địa phương được đo lường bằng năng suất sử dụng các nguồn lực và được cấu thành từ ba nhóm trụ cột chính:

Thứ nhất, nhóm lợi thế tự nhiên sẵn có bao gồm vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, khoáng sản) và quy mô địa phương. Đây là các yếu tố đầu vào nền tảng cho sự phát triển kinh tế.

Thứ hai, NLCT ở cấp độ địa phương (vĩ mô) bao gồm chất lượng hạ tầng xã hội, hệ thống giáo dục, y tế, thể chế kinh tế, cơ cấu ngân sách và chính sách tài khóa.

Thứ ba, NLCT ở cấp độ doanh nghiệp (vi mô) bao gồm chất lượng môi trường kinh doanh, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, trình độ phát triển cụm ngành và chiến lược hoạt động, độ tinh thông công nghệ của doanh nghiệp. Ngoài ra, nghiên cứu vận dụng sâu sắc các khái niệm về cụm ngành liên kết, năng suất lao động và mô hình đánh giá hàm lượng công nghệ qua bốn thành phần kỹ thuật, con người, thông tin, tổ chức.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp phong phú từ Niên giám thống kê tỉnh Tây Ninh và các tỉnh Vùng Đông Nam Bộ giai đoạn 2001-2010, dữ liệu Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố giai đoạn 2006-2011, cùng các báo cáo chuyên đề từ Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Tây Ninh.

Về phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Luận văn tổng hợp và phân tích dữ liệu toàn bộ 206 dự án FDI còn hiệu lực trên địa bàn đến cuối năm 2010, khảo sát 161 dự án tại 5 khu công nghiệp tập trung với tổng diện tích 4,326 ha. Khảo sát công nghệ thu thập dữ liệu từ toàn bộ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn thuộc ba khối doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI. Dữ liệu PCI kế thừa mẫu khảo sát ngẫu nhiên hàng trăm doanh nghiệp dân doanh hàng năm của VCCI.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả, so sánh đối chuẩn là nhằm định lượng chính xác năng suất lao động từng ngành, đo lường các chỉ số thành phần công nghệ và chỉ ra bản chất các điểm nghẽn kìm hãm năng lực cạnh tranh của tỉnh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế nhanh nhưng chuyển dịch cơ cấu thiếu bền vững. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 14.1%/năm, song cơ cấu kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nông nghiệp với 26.8% GDP vào năm 2010. Năng suất lao động ngành nông nghiệp chỉ đạt 12.6 triệu đồng/người vào năm 2010, thấp hơn rất nhiều so với khu vực dịch vụ (28.9 triệu đồng/người) và công nghiệp - xây dựng (23.9 triệu đồng/người). Dù vậy, khu vực nông nghiệp vẫn chiếm tới 45.8% tổng lực lượng lao động (271,197 người trên tổng số 614,162 lao động), cho thấy sự dịch chuyển lao động sang khu vực có năng suất cao diễn ra rất chậm.

Thứ hai, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt quy mô thấp và thâm dụng lao động phổ thông. Tính đến cuối năm 2010, toàn tỉnh có 206 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 970.6 triệu USD. Suất đầu tư bình quân chỉ đạt 4.7 triệu USD/dự án, thấp nhất trong Vùng Đông Nam Bộ (so với mức 6.5 triệu USD/dự án của Bình Dương và 15.8 triệu USD/dự án của Đồng Nai). Khu vực FDI chỉ đóng góp 47.6% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, thấp hơn mức bình quân 55.2% của khu vực.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực và trình độ công nghệ doanh nghiệp còn nhiều bất cập. Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 44.84% tổng lực lượng lao động vào năm 2010. Chỉ số hàm lượng công nghệ toàn ngành sản xuất công nghiệp đạt mức thấp 3.48 điểm; trong đó chỉ số kỹ thuật chỉ đạt 2.44 điểm và chỉ số con người đạt 3.57 điểm.

Thứ tư, cơ cấu thu và chi ngân sách bộc lộ nhiều điểm yếu. Nguồn thu nội địa trên địa bàn năm 2009 chỉ chiếm 57% tổng thu ngân sách, trong khi thu từ xổ số kiến thiết chiếm tới hơn 24%. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển chỉ chiếm 11% - 14% tổng chi ngân sách, riêng chi cho giáo dục đào tạo nghề năm 2009 chỉ đạt 21 tỷ đồng, chiếm vỏn vẹn 0.6% tổng chi.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả qua biểu đồ so sánh khoảng cách GDP và cơ cấu ngân sách giữa Tây Ninh và Bình Dương, bức tranh đối lập thể hiện rõ rệt. Cùng xuất phát điểm là tỉnh thuần nông khi tái lập năm 1997 với điều kiện tự nhiên tương đồng, Bình Dương đã bứt phá mạnh mẽ nhờ dành tới hơn 45% tổng chi ngân sách cho đầu tư phát triển (gấp hơn 6 lần giá trị tuyệt đối của Tây Ninh) và chi cho giáo dục dạy nghề lên đến 684 tỷ đồng (chiếm 11% ngân sách).

Bảng tổng hợp chỉ số PCI ghi nhận nỗ lực lớn của Tây Ninh khi tăng từ 53.10 điểm (hạng 56 năm 2007) lên nhóm điều hành Tốt năm 2011, dẫn đầu về chi phí gia nhập thị trường và tiếp cận đất đai. Tuy nhiên, việc thiếu vắng các cụm ngành chế biến sâu cho vùng nguyên liệu 402,817 ha đất tự nhiên khiến hơn 64% giá trị xuất khẩu vẫn là hàng sơ chế và gia công thâm dụng lao động, chưa tạo ra giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mạng lưới dạy nghề. Ủy ban nhân dân tỉnh cần chỉ đạo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp Sở Giáo dục và Đào tạo tái cấu trúc 198 cơ sở dạy nghề, tập trung hiện đại hóa 3 trung tâm dạy nghề nòng cốt. Nâng tỷ trọng chi ngân sách cho giáo dục đào tạo nghề từ mức 0.6% lên tối thiểu 8% - 10% tổng chi ngân sách giai đoạn 2012-2020. Mục tiêu là nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 44.84% lên trên 55% vào năm 2015 và đạt 65% vào năm 2020 nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa.

Thứ hai, hiện đại hóa và hoàn thiện hạ tầng giao thông kết nối liên vùng. Sở Giao thông Vận tải chủ trì nâng cấp hai tuyến huyết mạch là Quốc lộ 22 (chiều dài 58.5 km) và Quốc lộ 22B (chiều dài 87.675 km), đồng thời phối hợp các cơ quan Trung ương xúc tiến xây dựng tuyến cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh - Mộc Bài dài 55 km trước năm 2020. Ưu tiên mở rộng các tuyến đường kết nối trực tiếp vào các khu công nghiệp Bourbon An Hòa, Phước Đông - Bời Lời và cụm cảng đường thủy nội địa trên sông Vàm Cỏ Đông.

Thứ ba, xây dựng và phát triển cụm ngành chế biến nông sản chuyên sâu. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp Sở Công Thương quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung cho cây cao su, mía, mì trên nền 85.63% diện tích đất xám tự nhiên. Ban hành cơ chế ưu đãi đầu tư nhằm thu hút các doanh nghiệp công nghệ cao vào chế biến sâu, hạ tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu sơ chế từ 64% xuống dưới 30% vào năm 2020.

Thứ tư, chọn lọc dòng vốn FDI và nâng cao tỷ lệ lấp đầy khu công nghiệp. Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh cần chuyển trọng tâm từ thu hút số lượng sang chất lượng, đặt mục tiêu nâng suất đầu tư bình quân từ 4.7 triệu USD lên 10 - 12 triệu USD/dự án giai đoạn 2015-2020. Tập trung xúc tiến lấp đầy diện tích 4,326 ha tại 5 khu công nghiệp hiện hữu đạt trên 70% trước khi thành lập các khu công nghiệp mới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan tham mưu chính sách. Nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ thực chứng và dữ liệu kinh tế giúp Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công Thương xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước.

Thứ hai, Ban Quản lý Khu kinh tế và các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp. Luận văn giúp nhận diện xu hướng dịch chuyển dòng vốn, định hình tiêu chí lựa chọn dự án công nghệ cao và cải thiện hạ tầng logistics kết nối trên địa bàn tỉnh.

Thứ ba, cộng đồng doanh nghiệp tư nhân và các nhà đầu tư FDI. Doanh nghiệp có được bức tranh toàn diện về môi trường kinh doanh, hiện trạng 614,162 lao động, chuỗi cung ứng nông sản và các lợi thế so sánh tại địa phương để xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận ứng dụng mô hình năng lực cạnh tranh của Michael Porter và TS. Vũ Thành Tự Anh vào nghiên cứu thực tiễn tại các tỉnh thành Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tây Ninh đạt tăng trưởng GDP trên 14%/năm nhưng vì sao vẫn tụt lại so với Bình Dương? Nguyên nhân cốt lõi là do cơ cấu kinh tế của Tây Ninh chuyển dịch chậm khi nông nghiệp vẫn chiếm 26.8% GDP năm 2010. Bình Dương đã tập trung tới 45% ngân sách cho đầu tư phát triển hạ tầng và 11% cho giáo dục, giúp thu hút 14.13 tỷ USD vốn FDI so với 970.6 triệu USD của Tây Ninh.

Thực trạng thu hút vốn FDI của tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2001-2010 có đặc điểm gì? Toàn tỉnh thu hút 206 dự án FDI với vốn đăng ký 970.6 triệu USD, nhưng chủ yếu là dự án quy mô nhỏ, suất đầu tư bình quân thấp đạt 4.7 triệu USD/dự án. Các dự án tập trung vào may mặc, da giày thâm dụng lao động phổ thông, đóng góp vào giá trị sản xuất công nghiệp chỉ đạt 47.6%.

Điểm nghẽn lớn nhất trong nguồn nhân lực tỉnh Tây Ninh là gì? Tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 44.84% vào năm 2010. Mạng lưới 198 cơ sở dạy nghề chủ yếu quy mô nhỏ, chi ngân sách cho dạy nghề năm 2009 chỉ đạt 21 tỷ đồng (chiếm 0.6% ngân sách), dẫn đến tình trạng vừa thừa lao động phổ thông vừa thiếu lao động kỹ thuật cao.

Chỉ số hàm lượng công nghệ của doanh nghiệp tại Tây Ninh được đánh giá như thế nào? Điểm đóng góp công nghệ toàn ngành sản xuất công nghiệp chỉ đạt mức dưới trung bình 3.48 điểm. Trong đó, chỉ số kỹ thuật chỉ đạt 2.44 điểm và con người đạt 3.57 điểm, cho thấy mức độ ứng dụng máy móc hiện đại và kỹ năng vận hành công nghệ của doanh nghiệp còn rất hạn chế.

Khung lý thuyết năng lực cạnh tranh trong luận văn được xây dựng trên nền tảng nào? Luận văn kết hợp khung lý thuyết Năng lực cạnh tranh quốc gia của Giáo sư Michael Porter (1990) và mô hình điều chỉnh cấp địa phương của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (2011), đánh giá qua ba trụ cột: lợi thế tự nhiên, NLCT cấp địa phương và NLCT cấp doanh nghiệp.

Kết luận

  • Tỉnh Tây Ninh sở hữu tiềm năng tự nhiên vượt trội với 402,817 ha diện tích đất và 240 km đường biên giới giáp Campuchia nhưng chưa khai thác hiệu quả.
  • Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001-2010 đạt trên 14.1%/năm, tuy nhiên cơ cấu kinh tế còn nặng về nông nghiệp với tỷ trọng 26.8% GDP năm 2010.
  • Năng lực cạnh tranh địa phương đối mặt với các điểm nghẽn lớn: 44.84% lao động chưa qua đào tạo, suất đầu tư FDI thấp 4.7 triệu USD/dự án và điểm công nghệ chỉ đạt 3.48.
  • Ba nhóm chính sách ưu tiên gồm: nâng cấp đào tạo nguồn nhân lực, hoàn thiện hạ tầng kết nối Quốc lộ 22, 22B và hình thành cụm ngành chế biến sâu cây công nghiệp.
  • Luận văn đóng góp khung giải pháp chiến lược khả thi, định hướng hành động cho chính quyền địa phương giai đoạn 2012-2020 nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và đưa Tây Ninh bứt phá thành tỉnh công nghiệp hiện đại.