Tổng quan nghiên cứu

Quảng Ninh được ví như hình ảnh một "Việt Nam thu nhỏ" nhờ sở hữu vị trí địa kinh tế chiến lược thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và tài nguyên thiên nhiên phong phú. Trong giai đoạn 2001 - 2012, quy mô tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh theo giá thực tế đã tăng hơn 10 lần, đạt 65.616 tỷ đồng vào năm 2012 với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 12,2%/năm, cao gần gấp đôi mức bình quân 7%/năm của cả nước. GDP bình quân đầu người năm 2012 đạt 2.657 USD, vượt 1,5 lần mức trung bình toàn quốc. Đồng thời, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2012 đạt mốc 30.000 tỷ đồng, đưa Quảng Ninh vào nhóm 5 địa phương có số thu ngân sách cao nhất cả nước.

Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh đang bộc lộ những mâu thuẫn nội tại gay gắt và đối mặt với rủi ro thiếu tính bền vững. Sự phát triển nóng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên hữu hạn, đặc biệt là than đá và quỹ đất, đã gây suy thoái môi trường trầm trọng, xung đột trực tiếp với định hướng phát triển ngành du lịch và dịch vụ sinh thái. Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Phạm Lê Hưng tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá toàn diện các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Quảng Ninh, phân tích căn nguyên các điểm nghẽn phát triển và đề xuất các hàm ý chính sách nhằm chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ "nâu" sang "xanh". Nghiên cứu được thực hiện trong phạm vi không gian tỉnh Quảng Ninh, đặt trong thế so sánh với 11 địa phương thuộc Vùng Đồng bằng sông Hồng, giai đoạn 2001 - 2012 có cập nhật số liệu năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Khung phân tích Năng lực cạnh tranh quốc gia của Giáo sư Michael Porter được Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh hiệu chỉnh cho cấp độ địa phương vào năm 2011. Khung phân tích này xác định năng suất sử dụng các nguồn lực gồm vốn, lao động, đất đai và tài nguyên là hạt nhân quyết định sự thịnh vượng và năng lực cạnh tranh bền vững của một tỉnh. Cấu trúc mô hình bao gồm ba nhóm nhân tố chính:

  1. Các yếu tố sẵn có của địa phương: Vị trí địa lý kinh tế, điều kiện tự nhiên, tài nguyên khoáng sản, diện tích 6.100 km2 và quy mô dân số 1,16 triệu người.
  2. Năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương: Chất lượng hạ tầng xã hội gồm y tế, giáo dục; hạ tầng kỹ thuật gồm giao thông, điện, nước, viễn thông; chính sách tài khóa, cơ cấu tín dụng và phân bổ nguồn lực.
  3. Năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp: Môi trường kinh doanh địa phương, hoạt động và chiến lược của cộng đồng doanh nghiệp, cùng trình độ phát triển cụm ngành được đánh giá qua Mô hình kim cương gồm bốn đỉnh tương tác: điều kiện nhân tố đầu vào, điều kiện cầu nội địa, bối cảnh chiến lược và cạnh tranh, cùng các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan.

Bên cạnh đó, luận văn áp dụng quan điểm phát triển bền vững theo định nghĩa của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới năm 1987, đòi hỏi sự hài hòa tuyệt đối giữa ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu thứ cấp được thu thập chính thống từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Quảng Ninh, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Sở Kế hoạch và Đầu tư, cùng các báo cáo ngành trong giai đoạn 2001 - 2012.

Để bóc tách bản chất tăng trưởng, tác giả áp dụng Mô hình phân tích dịch chuyển cấu phần của Jan Fagerberg năm 2000 nhằm phân rã nguồn gốc tăng trưởng năng suất lao động thành ba thành phần: hiệu ứng nội ngành, hiệu ứng tĩnh và hiệu ứng động. Mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 14 đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh và đặt trong tương quan so sánh với 10 tỉnh, thành phố lân cận trong Vùng Đồng bằng sông Hồng. Phương pháp phân tích dữ liệu thứ cấp đa chiều và mô hình phân rã cấu phần được lựa chọn vì tính khách quan cao, cho phép nhận diện chính xác nguồn gốc gia tăng giá trị nội tại thay vì chỉ nhìn vào các chỉ số tăng trưởng bề nổi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tăng trưởng năng suất lao động đạt mức cao nhưng bản chất thiếu sự chuyển dịch cơ cấu tích cực. Năng suất lao động của Quảng Ninh tăng gần 3 lần từ 29,8 triệu đồng/người năm 2007 lên 87,1 triệu đồng/người năm 2011, đứng đầu Vùng Đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, kết quả phân tích dịch chuyển cấu phần giai đoạn 2005 - 2011 chỉ ra rằng hiệu ứng nội ngành chiếm tới 7,76 triệu đồng trên tổng mức tăng 9,72 triệu đồng, tương đương xấp xỉ 80%. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào việc đầu tư mở rộng vốn của ngành công nghiệp nặng và khai khoáng, trong khi sự dịch chuyển lao động từ ngành năng suất thấp sang ngành năng suất cao diễn ra rất chậm.

Thứ hai, nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào khu vực kinh tế nhà nước và khai thác khoáng sản thô. Khu vực kinh tế nhà nước chiếm tới 57,2% tổng sản phẩm trên địa bàn năm 2012. Các doanh nghiệp ngành than đóng góp gần 7.100 tỷ đồng, chiếm khoảng 50% tổng số thu nội địa của tỉnh; nguồn thu từ đất và than cộng lại chiếm tới 77% tổng thu ngân sách nội địa năm 2011. Các mặt hàng công nghiệp và khoáng sản chiếm 65% tổng kim ngạch xuất khẩu 2,56 tỷ USD năm 2012, với hàm lượng chế biến sâu còn rất thấp.

Thứ ba, sự xung đột gay gắt giữa công nghiệp hóa nặng và phát triển du lịch. Ngành than và công nghiệp xi măng phát sinh ô nhiễm môi trường nghiêm trọng: để sản xuất 1 tấn than thương phẩm cần bóc xúc bình quân 10,5 m3 đất đá và xả thải 4 - 5 m3 nước thải mỏ chưa qua xử lý chuẩn mực. Toàn tỉnh thải ra khoảng 300 triệu tấn đất đá thải và 250 triệu m3 nước thải mỏ mỗi năm. Ngược lại, ngành du lịch dù sở hữu Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long nhưng doanh thu chỉ chiếm dưới 10% GDP tỉnh năm 2012, với thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế chỉ đạt 2,8 ngày.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm được minh họa rõ nét thông qua biểu đồ phân rã nguồn gốc tăng trưởng năng suất lao động và sơ đồ cụm ngành kim cương. Dữ liệu cho thấy mô hình tăng trưởng của tỉnh bộc lộ tính chất "ăn xổi", tận thu tài nguyên thiên nhiên hơn là đổi mới công nghệ. Mặc dù chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2013 của Quảng Ninh đạt 63,51 điểm, xếp vị trí thứ 4 toàn quốc và dẫn đầu miền Bắc, nhưng tính ổn định chưa cao do điểm nghẽn về hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và chất lượng nguồn nhân lực khi tỷ lệ lao động qua đào tạo mới chỉ đạt 50%. So với các nghiên cứu tại các trung tâm du lịch quốc tế, mô hình phát triển cụm ngành của Quảng Ninh thiếu vắng sự tham gia của các tập đoàn quản lý du lịch đa quốc gia, làm giảm khả năng kích thích chi tiêu ngoài vé tham quan của du khách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích khoa học, luận văn đề xuất 5 nhóm khuyến nghị chiến lược có tính hành động cao:

  1. Tái cấu trúc công tác quy hoạch không gian kinh tế và hoàn thiện hạ tầng kết nối liên vùng: Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải triển khai đầu tư tuyến đường cao tốc nối Hạ Long với Hải Phòng và Hà Nội theo hình thức đối tác công tư PPP giai đoạn 2015 - 2020, rút ngắn thời gian di chuyển đến sân bay Cát Bi xuống dưới 60 phút. Đồng thời nạo vét luồng hàng hải cảng Cái Lân đạt chuẩn độ sâu âm 10m và bán kính vũng quay tàu 450m để khai thác tối đa công suất tiếp nhận tàu biển 20.000 DWT.
  2. Chuyển dịch mô hình tăng trưởng cụm ngành du lịch sang chiều sâu: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì thu hút các tập đoàn quản lý khách sạn quốc tế 5 sao, xây dựng các tổ hợp giải trí cao cấp tại Hạ Long, Vân Đồn và Bái Tử Long giai đoạn 2015 - 2025. Mục tiêu nâng tỷ trọng doanh thu du lịch lên trên 15% GDP tỉnh và tăng thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế từ 2,8 ngày lên 4,5 ngày.
  3. Áp dụng chuẩn mực công nghệ xanh trong khai khoáng và xử lý ô nhiễm mỏ: Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam cùng Sở Tài nguyên và Môi trường thực hiện lộ trình 2014 - 2020 xử lý triệt để 250 triệu m3 nước thải mỏ/năm, chấm dứt hoàn toàn xuất khẩu than thô, thực hiện hoàn nguyên môi trường và phủ xanh 100% các bãi đổ thải có cao trình trên 400m tại Cẩm Phả và Hòn Gai.
  4. Nâng cao năng lực điều hành kinh tế và phát triển kinh tế tư nhân: Trung tâm Hành chính công và Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh định kỳ hàng quý rà soát, cắt giảm 30% thời gian thực hiện thủ tục cấp phép đầu tư, duy trì thứ hạng PCI trong nhóm 5 tỉnh dẫn đầu cả nước và nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật từ 50% lên trên 70% vào năm 2020.
  5. Thiết lập cơ chế liên kết vùng thực chất: Ban Chỉ đạo Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ phối hợp với chính quyền Quảng Ninh và Hải Phòng thiết lập cụm logistics cảng biển chung nhằm tạo chuỗi cung ứng dịch vụ hậu cần cạnh tranh quốc tế.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh: Cán bộ thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường có thể ứng dụng khung phân tích để xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội, định hướng tăng trưởng xanh và thiết kế bộ chỉ tiêu đánh giá PCI tại địa phương.
  2. Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế và doanh nghiệp: Ban điều hành các doanh nghiệp ngành than, vật liệu xây dựng, cảng biển và du lịch nghỉ dưỡng nắm bắt được bối cảnh pháp lý, phân tích được các rủi ro về môi trường để điều chỉnh chiến lược đầu tư công nghệ dài hạn.
  3. Chuyên gia phân tích kinh tế và nhà nghiên cứu chính sách công: Nghiên cứu cung cấp tài liệu tham khảo giá trị về ứng dụng mô hình kim cương của Porter và phương pháp phân rã dịch chuyển cấu phần trong nghiên cứu kinh tế vùng.
  4. Giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Quản lý công: Luận văn là case study học thuật chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, giải quyết bài toán xung đột lợi ích giữa phát triển công nghiệp nặng và bảo tồn sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm nghẽn lớn nhất cản trở phát triển bền vững của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn nghiên cứu là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là nền kinh tế phụ thuộc quá nặng vào tài nguyên than đá và quỹ đất khi các nguồn này chiếm 77% thu ngân sách nội địa năm 2011. Khai thác lộ thiên tạo ra 300 triệu tấn đất đá thải mỗi năm, trực tiếp phá hủy cảnh quan sinh thái của Vịnh Hạ Long.

  2. Phương pháp phân rã cấu phần năng suất của Jan Fagerberg chỉ ra điều gì về nền kinh tế Quảng Ninh? Mô hình chỉ ra rằng trong mức tăng 9,72 triệu đồng năng suất lao động giai đoạn 2005 - 2011, hiệu ứng nội ngành chiếm tới 80%. Tăng trưởng chủ yếu dựa vào thâm dụng vốn trong ngành công nghiệp nặng chứ chưa tạo ra sự chuyển dịch lao động sang các ngành dịch vụ giá trị cao.

  3. Tại sao ngành du lịch Quảng Ninh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng Di sản Vịnh Hạ Long? Do hạ tầng du lịch cao cấp còn thiếu thốn, toàn tỉnh giai đoạn nghiên cứu chỉ có 1 khách sạn đạt chuẩn 5 sao và thời gian lưu trú của khách quốc tế đạt mức thấp 2,8 ngày, dẫn đến tỷ trọng doanh thu du lịch trên GDP đạt dưới 10%.

  4. Vị thế cạnh tranh môi trường kinh doanh PCI của Quảng Ninh có đặc điểm gì nổi bật? Năm 2013, Quảng Ninh đạt bước tiến nhảy vọt khi xếp hạng thứ 4 toàn quốc với 63,51 điểm PCI, trở thành tỉnh duy nhất ở miền Bắc lọt vào nhóm điều hành rất tốt, ghi nhận nỗ lực cải cách hành chính vượt bậc của chính quyền địa phương.

  5. Giải pháp then chốt nào giúp giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa khai thác than và dịch vụ du lịch? Giải pháp then chốt là kiểm soát hạn mức khai thác than, đổi mới công nghệ khai thác hầm lò hiện đại, xử lý 100% nước thải mỏ và chuyển dịch dần nguồn lực đầu tư sang hoàn thiện hạ tầng dịch vụ du lịch xanh, giải trí cao cấp.

Kết luận

  • Luận văn phân tích toàn diện hiện trạng phát triển kinh tế Quảng Ninh giai đoạn 2001 - 2012 với GDP tăng trưởng bình quân 12,2%/năm nhưng phụ thuộc tới 57,2% vào khu vực kinh tế nhà nước.
  • Năng suất lao động đạt 87,1 triệu đồng/người vào năm 2011 nhưng nguồn gốc tăng trưởng chủ yếu đến từ hiệu ứng nội ngành thâm dụng vốn trong lĩnh vực khai khoáng.
  • Hoạt động công nghiệp nặng và khai thác than để lại hệ lụy sinh thái nghiêm trọng với 250 triệu m3 nước thải mỏ mỗi năm, kìm hãm tiềm năng của ngành du lịch Vịnh Hạ Long.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào 5 trụ cột: quy hoạch không gian, giao thông kết nối PPP, phát triển du lịch xanh, cải tiến công nghệ khai mỏ và liên kết vùng kinh tế trọng điểm.
  • Lộ trình 2015 - 2025 là giai đoạn bản lề để địa phương chuyển đổi dứt điểm mô hình tăng trưởng từ "nâu" sang "xanh", nâng cao năng lực cạnh tranh bền vững.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm có thể tiếp tục tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu để áp dụng các bài học kinh nghiệm chính sách công vào thực tiễn quản trị địa phương.