Tổng quan nghiên cứu

Năm 2012, tổng sản phẩm nội địa theo giá thực tế của tỉnh Long An ước đạt 53,272 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa bình quân giai đoạn 2000 – 2012 đạt 10.62%/năm. Mặc dù sở hữu vị trí chiến lược tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh và thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, bức tranh tăng trưởng kinh tế của Long An trong giai đoạn 2006 – 2010 chỉ đạt bình quân 11.9%/năm, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 13.0%/năm của các tỉnh lân cận như Bình Dương hay Đồng Nai. Năng suất lao động năm 2010 của tỉnh chỉ đạt 15.35 triệu đồng/lao động/năm, xếp vị trí thấp thứ hai trong khu vực phụ cận.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là nhận diện các nhân tố cốt lõi quyết định lợi thế cạnh tranh địa phương, đồng thời phân tích những rào cản cản trở sự bứt phá kinh tế của tỉnh. Mục tiêu cụ thể nhằm trả lời hai câu hỏi lớn: đâu là các yếu tố cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh của Long An và những giải pháp chính sách công nào cần được ban hành để nâng cao vị thế kinh tế của địa phương.

Phạm vi nghiên cứu tập trung trên địa bàn tỉnh Long An trong mối tương quan so sánh với 5 tỉnh lân cận Thành phố Hồ Chí Minh gồm Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Tiền Giang và Bà Rịa – Vũng Tàu trong khung thời gian từ năm 2000 đến năm 2012. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để tái định hình chính sách đầu tư công, giải quyết tình trạng 90.3% lực lượng lao động chưa qua đào tạo kỹ thuật và hỗ trợ thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu với tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng đạt 41% vào năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung phân tích năng lực cạnh tranh địa phương của Giáo sư Michael E. Porter, được Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh điều chỉnh để phù hợp với bối cảnh kinh tế cấp tỉnh tại Việt Nam. Khung phân tích đặt năng suất lao động vào vị trí trung tâm nhằm đo lường năng lực cạnh tranh thực chất, được chi phối bởi ba nhóm nhân tố: các yếu tố lợi thế sẵn có của địa phương, năng lực cạnh tranh ở cấp độ địa phương và năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Mô hình Kim cương để phân tích chuyên sâu mức độ phát triển của các cụm ngành kinh tế trọng điểm. Mô hình này đánh giá sự tương tác giữa bốn nhóm yếu tố: điều kiện các nhân tố đầu vào, điều kiện cầu nội địa, sự hiện diện của các ngành công nghiệp hỗ trợ và cấu trúc cạnh tranh doanh nghiệp. Hệ thống khái niệm chính được làm rõ bao gồm năng suất lao động tổng hợp, hiệu ứng nội ngành, hiệu ứng chuyển dịch lao động tĩnh và động, cụm ngành công nghiệp và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê kinh tế vi mô và vĩ mô. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Niên giám Thống kê tỉnh Long An giai đoạn 2000 – 2012, báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước, quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải và báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của VCCI.

Đối với dữ liệu chuyên sâu cấp vi mô, nghiên cứu khai thác cơ sở dữ liệu Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2012 của Cục Thống kê tỉnh Long An với cỡ mẫu toàn bộ gồm 3,279 doanh nghiệp trên địa bàn, kết hợp khảo sát tập trung 92 doanh nghiệp chế biến lúa gạo và 93 doanh nghiệp may gia công. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ đối với khối doanh nghiệp chính thức giúp phản ánh chính xác thực trạng sức khỏe tài chính, đòn bẩy nợ và năng suất lao động. Nghiên cứu áp dụng kỹ thuật phân rễ nguồn gốc tăng trưởng năng suất lao động để bóc tách rõ ràng giữa hiệu ứng nội ngành và hiệu ứng chuyển dịch liên ngành. Timeline xử lý dữ liệu kéo dài từ năm 2000 đến 2012, kết hợp phỏng vấn sâu lãnh đạo Sở Công Thương, Sở Giao thông Vận tải và Cục Thống kê tỉnh Long An vào năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu làm sáng tỏ bốn phát hiện cốt lõi về thực trạng năng lực cạnh tranh của tỉnh Long An:

Thứ nhất, năng suất lao động phân hóa sâu sắc và quá trình chuyển dịch cơ cấu nội tại diễn ra thiếu đồng đều. Năm 2012, năng suất lao động khu vực công nghiệp – xây dựng đạt 28.5 triệu đồng/lao động/năm, cao gấp 2.85 lần so với khu vực nông – lâm – thủy sản (10.0 triệu đồng/lao động/năm). Tốc độ tăng năng suất khu vực công nghiệp đạt bình quân 17.69%/năm trong giai đoạn 2007 – 2012, trong khi khu vực nông nghiệp chỉ tăng khiêm tốn 4.15%/năm.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực yếu kém tạo thành rào cản ngăn chặn sự dịch chuyển lao động. Năm 2012, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của tỉnh chiếm tới 90.3%, trong đó lao động nông nghiệp chiếm tới 51.0% tổng số lao động chưa qua đào tạo toàn tỉnh. Khối doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài đóng góp tới 68.6% giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2006 – 2010 nhưng chỉ chiếm 18.9% trong cơ cấu tổng sản phẩm nội địa do chủ yếu gia công thâm dụng lao động phổ thông.

Thứ ba, cơ sở hạ tầng kỹ thuật là điểm nghẽn nghiêm trọng nhất kìm hãm lợi thế vị trí địa lý. Đến năm 2011, tỷ lệ đường bộ được rải nhựa của Long An chỉ đạt 22.11%, thua xa mức 83.86% của Bình Dương và 64.00% của Đồng Nai. Số giờ cắt điện trung bình lên tới 10.96 giờ/tháng, cao hơn nhiều so với mức 4.00 giờ/tháng của Bình Dương. Trong số 23 khu công nghiệp được cấp chứng nhận đầu tư với 6,806 ha, tỷ lệ lấp đầy thực tế chỉ đạt 24.3%.

Thứ tư, cụm ngành lúa gạo sở hữu quy mô lớn nhưng thiếu chiều sâu công nghệ và liên kết chuỗi. Dù đạt kim ngạch xuất khẩu 267.52 triệu USD năm 2011 (chiếm 7.3% thị phần xuất khẩu cả nước), nhưng trong số 92 doanh nghiệp chế biến lúa gạo, tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên tổng tài sản chỉ đạt 2.4%, phản ánh sự thiếu hụt các ngành công nghiệp hỗ trợ tạo giống, bảo quản sau thu hoạch và logistics hiện đại.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến năng lực cạnh tranh của Long An chưa tương xứng với tiềm năng xuất phát từ việc gia tăng năng suất chủ yếu dựa vào hiệu ứng nội ngành, tức sự tự nâng cấp kỹ thuật của từng khu vực riêng lẻ. Đóng góp từ hiệu ứng chuyển dịch lao động tĩnh và động giữa khu vực nông nghiệp sang công nghiệp gần như bằng không do khoảng trống kỹ năng của người lao động.

Khi so sánh với các nghiên cứu kinh tế vùng tại Đông Nam Bộ, Long An có diện tích tự nhiên rộng lớn đạt 4,492 km2 (chiếm 18.95% diện tích vùng phụ cận Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng chỉ đóng góp 4.33% tổng sản phẩm toàn vùng. Những phát hiện này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ phân rễ nguồn gốc năng suất lao động (Shift-Share Analysis) nhằm thể hiện sự tương phản giữa hiệu ứng nội ngành và chuyển dịch lao động, kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu chỉ số hạ tầng kỹ thuật giữa 6 tỉnh vùng kinh tế phụ cận.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao toàn diện năng lực cạnh tranh của tỉnh Long An, bốn nhóm giải pháp chính sách trọng tâm cần được triển khai:

Thứ nhất, tái cơ cấu và tập trung nguồn vốn đầu tư hạ tầng giao thông kết nối liên vùng. Ủy ban nhân dân tỉnh Long An cùng Sở Giao thông Vận tải cần tập trung nguồn lực thực hiện nâng cấp, mở rộng các tuyến đường huyết mạch gồm Quốc lộ 62, Quốc lộ 50, Tỉnh lộ ĐT822, ĐT823 và ĐT825 thay vì phân bổ dàn trải. Mục tiêu nâng tỷ lệ đường rải nhựa từ 22.11% lên trên 50% vào năm 2018, bảo đảm kết nối thông suốt từ vùng nguyên liệu nông sản Đồng Tháp Mười đến các khu công nghiệp tại Bến Lức, Đức Hòa.

Thứ hai, hiện đại hóa hệ thống lưới điện truyền tải và cấp nước sạch công nghiệp. Công ty Điện lực Long An phối hợp với các cơ quan chuyên môn điều chỉnh quy hoạch, đầu tư bổ sung các trạm 110kV tại khu vực Đồng Tháp Mười để phục vụ cơ giới hóa sản xuất và chế biến nông sản. Phấn đấu giảm số giờ cắt điện từ 10.96 giờ/tháng xuống dưới 4.00 giờ/tháng và nâng công suất hệ thống cấp nước vượt mức 37,200 m3/ngày đêm hiện tại trong giai đoạn 2014 – 2020.

Thứ ba, đột phá nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo nhu cầu thị trường. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề, khuyến khích các doanh nghiệp trong 16 khu công nghiệp tham gia biên soạn giáo trình và bao tiêu nhân lực. Target metric hướng đến giảm tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo từ 90.3% xuống dưới 65% vào năm 2020, nâng điểm số chỉ tiêu đào tạo lao động trong PCI vượt mức 6.0 điểm.

Thứ tư, nâng cấp chuỗi giá trị và hoàn thiện cụm ngành lúa gạo xuất khẩu. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Sở Công Thương triển khai hiệu quả Nghị định 109/2010/NĐ-CP và Nghị định 42/2012/NĐ-CP, mở rộng vùng nguyên liệu cánh đồng mẫu lớn đạt quy mô 40,000 ha tại 4 huyện trọng điểm. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư dây chuyền đánh bóng, sấy lúa tự động nhằm nâng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của ngành chế biến gạo từ 8.4% lên trên 15% trong giai đoạn 2013 – 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách công và quản lý nhà nước cấp tỉnh bao gồm Ủy ban nhân dân, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Công Thương. Nghiên cứu cung cấp khung đánh giá thực chứng để điều chỉnh quy hoạch kinh tế – xã hội, tối ưu hóa ngân sách chi đầu tư phát triển (vốn chỉ chiếm 32.3% tổng chi) và tái cấu trúc mạng lưới khu công nghiệp hiệu quả.

Thứ hai, các chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và phát triển đô thị. Báo cáo phân tích chi tiết dữ liệu về thực trạng lấp đầy 43.1% tại 16 khu công nghiệp hoạt động và tình hình phụ tải lưới điện, giúp nhà đầu tư định vị chính xác địa bàn rót vốn chiến lược tại các huyện trọng điểm như Cần Giuộc, Bến Lức, Đức Hòa.

Thứ ba, lãnh đạo các doanh nghiệp chế biến nông sản và xuất nhập khẩu. Nghiên cứu mang lại bức tranh toàn cảnh về chuỗi giá trị lúa gạo, cung cấp thông tin về 40,000 ha cánh đồng mẫu lớn và 92 đơn vị chế biến để doanh nghiệp tối ưu hóa mạng lưới cung ứng và liên kết tiêu thụ sản phẩm.

Thứ tư, các chuyên gia nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học ngành Chính sách công và Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về việc ứng dụng khung phân tích Porter và phương pháp phân rễ năng suất lao động trong đánh giá kinh tế địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Long An có vị trí địa lý thuận lợi nhưng năng suất lao động lại thấp hơn các tỉnh lân cận?

Long An gặp điểm nghẽn nghiêm trọng về hạ tầng khi tỷ lệ đường nhựa hóa chỉ đạt 22.11% và chất lượng nguồn nhân lực thấp với 90.3% lao động chưa qua đào tạo. Điều này cản trở dòng dịch chuyển lao động từ nông nghiệp có năng suất 10.0 triệu đồng sang khu vực công nghiệp có năng suất 28.5 triệu đồng.

Đâu là nguồn gốc chính thúc đẩy tăng trưởng năng suất của tỉnh giai đoạn 2007 – 2012?

Phân tích kinh tế lượng chỉ ra tăng trưởng năng suất chủ yếu đến từ hiệu ứng nội ngành nhờ cải tiến kỹ thuật nội bộ của từng lĩnh vực. Hiệu ứng chuyển dịch lao động liên ngành hầu như không phát huy tác dụng do sự thiếu hụt kỹ năng chuyên môn của lực lượng lao động nông thôn.

Cụm ngành lúa gạo của tỉnh Long An đang đối mặt với những hạn chế căn bản nào?

Dù đạt doanh thu 1,497 tỷ đồng từ 92 doanh nghiệp chế biến, cụm ngành lúa gạo chủ yếu gồm các cơ sở nhỏ lẻ, sử dụng tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao ở mức 2.45 lần. Các hoạt động nghiên cứu tạo giống, hệ thống kho chứa đạt chuẩn và thương hiệu quốc tế còn rất yếu.

Hiệu quả thu hút đầu tư và phát triển các khu công nghiệp tại Long An đạt mức nào?

Tính đến năm 2013, tỉnh quy hoạch 28 khu công nghiệp nhưng 23 khu được cấp phép chỉ đạt tỷ lệ lấp đầy 24.3%. Tình trạng mất điện bình quân 10.96 giờ/tháng và giao thông kết nối kém khiến quỹ đất công nghiệp chưa phát huy tối đa hiệu quả khai thác.

Các cơ sở pháp lý nào hỗ trợ mạnh mẽ cho việc nâng cấp cụm ngành nông nghiệp địa phương?

Nghị định 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, Nghị định 42/2012/NĐ-CP về quản lý đất lúa kết hợp cùng Quyết định 80/2002/QĐ-TTg và Nghị quyết 63/NQ-CP tạo hành lang pháp lý quan trọng thúc đẩy cơ giới hóa và liên kết bao tiêu nông sản bền vững.

Kết luận

  • Năng lực cạnh tranh của Long An phụ thuộc trực tiếp vào năng suất lao động công nghiệp đạt 28.5 triệu đồng/người/năm, vượt trội so với khu vực nông nghiệp.
  • Hệ thống hạ tầng kỹ thuật với tỷ lệ nhựa hóa đường bộ 22.11% và lưới điện thiếu ổn định là hai rào cản vật chất lớn nhất kìm hãm tăng trưởng.
  • Tỷ lệ 90.3% lao động chưa qua đào tạo kỹ thuật tạo thành nút thắt cản trở quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa.
  • Cụm ngành lúa gạo sở hữu tiềm năng lớn từ 40,000 ha cánh đồng mẫu lớn nhưng cần hoàn thiện khâu liên kết chuỗi và chế biến sâu.
  • Chính sách đầu tư công cần chuyển hướng từ phát triển công nghiệp dàn trải sang ưu tiên nâng cấp các trục giao thông huyết mạch và hạ tầng kỹ thuật chuyên ngành.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là bản địa hóa thành công khung phân tích năng lực cạnh tranh Porter kết hợp phân tích vi mô 3,279 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An. Trong giai đoạn 2013 – 2015, tỉnh cần ưu tiên tháo gỡ nút thắt giao thông và điện lực; giai đoạn 2016 – 2020 đẩy mạnh đào tạo nghề kỹ thuật và hoàn thiện cụm ngành. Các nhà hoạch định chính sách, nhà đầu tư và nhà nghiên cứu kinh tế hãy khai thác ngay các phát hiện thực chứng từ công trình này để thiết lập các giải pháp phát triển kinh tế địa phương bền vững.