Tổng quan nghiên cứu
Giai đoạn 2002 - 2011, tỉnh Hà Giang ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 11,71%/năm, vượt xa mức trung bình 7,16% của cả nước và đạt đỉnh 13,78% vào năm 2010. Tuy nhiên, nghịch lý kinh tế xuất hiện khi thu nhập bình quân đầu người năm 2010 chỉ đạt 610,8 nghìn đồng/người/tháng, chỉ tương đương 46% mức bình quân toàn quốc (1.387 nghìn đồng/người/tháng). Toàn tỉnh có tới 6/10 huyện thuộc diện 62 huyện nghèo nhất cả nước theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP. Tăng trưởng kinh tế của địa phương phụ thuộc phần lớn vào trợ cấp ngân sách từ Trung ương khi nguồn vốn này luôn chiếm trên 70% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn qua các năm.
Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là nhận diện thực trạng năng lực cạnh tranh thấp kém, cơ cấu kinh tế dịch chuyển dựa vào chi tiêu công và tình trạng phân tán nguồn lực do áp dụng dàn trải nhóm giải pháp tám đột phá và mười lăm chương trình trọng tâm của tỉnh. Luận văn hướng đến ba mục tiêu cụ thể: đánh giá hệ thống các nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, phân tích so sánh và xác định cụm ngành kinh tế có lợi thế cạnh tranh vượt trội, và xây dựng khung giải pháp chính sách phát triển cụm ngành chiến lược nhằm thúc đẩy tăng trưởng năng suất bền vững.
Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 11 đơn vị hành chính của tỉnh Hà Giang trong tương quan so sánh với 13 tỉnh thuộc vùng Trung du và Miền núi phía Bắc. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu tập trung vào chuỗi số liệu từ năm 2001 đến năm 2012. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu gắn liền với mục tiêu cải thiện căn bản chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp từ mức trên 70% xuống các ngành có giá trị gia tăng cao, đồng thời giải quyết bài toán giảm nghèo cho hơn 73,7 vạn dân vùng cực Bắc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết Năng lực cạnh tranh quốc gia và địa phương của Michael Porter (1990), được hiệu chỉnh bởi Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (2012) để phù hợp với bối cảnh các vùng kinh tế tại Việt Nam. Theo khung lý thuyết này, năng lực cạnh tranh được định nghĩa đồng nhất với năng suất sử dụng các nguồn lực đầu vào như lao động, vốn và tài nguyên thiên nhiên. Năng lực cạnh tranh của tỉnh được cấu thành từ ba tầng nhân tố: nhóm lợi thế tự nhiên (vị trí địa lý, tài nguyên, quy mô địa phương); năng lực cạnh tranh cấp địa phương (hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, chính sách tài khóa); và năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp (môi trường kinh doanh, trình độ phát triển cụm ngành, độ tinh vi của doanh nghiệp).
Bên cạnh đó, mô hình Kim cương (Diamond Model) của Porter được ứng dụng để phân tích chuyên sâu lợi thế của cụm ngành thông qua bốn thuộc tính tương hỗ:
- Điều kiện các yếu tố sản xuất đầu vào (nguồn nhân lực, tài nguyên, cơ sở hạ tầng, kiến thức chuyên ngành);
- Điều kiện về cầu nội địa (quy mô, tính chất và mức độ khắt khe của nhu cầu thị trường);
- Các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan (sự hiện diện của mạng lưới cung ứng và dịch vụ liên kết);
- Chiến lược, cấu trúc công ty và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành.
Luận văn cũng tích hợp lý thuyết tăng trưởng nội sinh và phương pháp phân tích dịch chuyển cấu phần năng suất nhằm làm rõ động lực gia tăng năng suất giữa các khu vực kinh tế.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích số liệu thứ cấp định lượng từ hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và cấp tỉnh. Cỡ mẫu dữ liệu bao quát 14 tỉnh thuộc vùng Trung du và Miền núi phía Bắc trong giai đoạn 10 năm (2001 - 2011), với tập trung quan sát toàn diện trên 11 huyện, thành phố thuộc tỉnh Hà Giang. Nguồn dữ liệu bao gồm: Niên giám Thống kê Tổng cục Thống kê, Báo cáo Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), dữ liệu PCI của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), và các báo cáo chuyên đề từ Sở Công Thương, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang.
Phương pháp chọn mẫu toàn bộ (complete enumeration) được áp dụng đối với các chỉ số kinh tế vĩ mô và chỉ số năng lực cấp tỉnh nhằm đảm bảo tính bao quát, không sai lệch chọn mẫu. Phương pháp phân tích dịch chuyển cấu phần (shift-share analysis) được lựa chọn để phân rã tăng trưởng năng suất lao động thành ba hiệu ứng: hiệu ứng nội ngành (intra-sectoral effect), hiệu ứng chuyển dịch tĩnh (static shift effect), và hiệu ứng chuyển dịch động (dynamic shift effect). Lý do lựa chọn phương pháp này là để kiểm chứng xem động lực tăng trưởng của tỉnh đến từ việc tối ưu hóa nội tại từng ngành hay từ sự dịch chuyển lao động giữa các khu vực kinh tế. Ngoài ra, phương pháp ma trận đánh giá đa tiêu chí được dùng để so sánh 3 cụm ngành: thủy điện, khai khoáng và du lịch.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế của Hà Giang mang tính hình thức và thiếu tính tự chủ. Mặc dù GDP khu vực dịch vụ tăng từ 30,3% lên 42,4% trong giai đoạn 2001 - 2011, sự chuyển dịch này không xuất phát từ các ngành thương mại hay logistics mà chủ yếu do tăng chi tiêu cho hoạt động quản lý nhà nước (chiếm 22,3% khu vực dịch vụ) và giáo dục đào tạo (chiếm 27,8%). Ngành xây dựng chiếm tỷ trọng áp đảo trong khu vực công nghiệp nhưng phụ thuộc hoàn toàn vào các dự án hạ tầng công cộng do Nhà nước phân bổ.
Thứ hai, nguồn gốc tăng trưởng năng suất lao động chủ yếu dựa vào hiệu ứng nội ngành, trong khi hiệu ứng chuyển dịch lao động gần như triệt tiêu. Số liệu phân tích cho thấy hơn 70% lực lượng lao động toàn tỉnh vẫn bị giữ chân trong khu vực nông nghiệp với năng suất rất thấp (chỉ bằng 1/7 năng suất khu vực công nghiệp và dịch vụ vào năm 2011). Trình độ lao động chưa qua đào tạo chiếm tới 88,4%, tỷ lệ học sinh bỏ học khi chuyển từ cấp tiểu học lên trung học cơ sở lên tới 40%, tạo ra rào cản nghiêm trọng đối với việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
| Chỉ số kinh tế - xã hội |
Tỉnh Hà Giang |
Bình quân Vùng TD&MN phía Bắc |
Cả nước |
| Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 2002-2011 |
11,71% |
Khoảng 9,50% |
7,16% |
| Thu nhập bình quân đầu người/tháng năm 2010 |
610,8 nghìn VNĐ |
905,0 nghìn VNĐ |
1.387,0 nghìn VNĐ |
| Tỷ lệ lao động không có trình độ chuyên môn |
88,40% |
86,20% |
Khoảng 84,00% |
| Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi (năm 2011) |
35,00‰ |
23,00‰ |
15,50‰ |
| Tỷ trọng trợ cấp Trung ương trong thu ngân sách |
Trên 70% |
Khoảng 55% - 60% |
Tự cân đối |
Thứ ba, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh cấp tỉnh rơi vào tình trạng suy giảm thứ hạng. Chỉ số PCI của Hà Giang tụt từ vị trí 34 (năm 2007 và 2009) xuống vị trí 53 trên 63 tỉnh thành vào năm 2012 với 53,00 điểm. Các chỉ số thành phần rớt điểm mạnh gồm chi phí thời gian (4,24 điểm), dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (3,26 điểm) và thiết chế pháp lý (3,70 điểm). Doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ chiếm trên 90%, chủ yếu cạnh tranh bằng giá thấp trong thị trường nội tỉnh khép kín.
Thứ tư, phân tích so sánh 3 cụm ngành tiềm năng (thủy điện, khai khoáng và du lịch) chứng minh sự vượt trội của ngành du lịch. Ngành thủy điện (quy hoạch 768 MW) và ngành khai khoáng (215 điểm mỏ) đều là ngành thâm dụng vốn, tạo rất ít việc làm tại chỗ, sử dụng công nghệ lạc hậu và gây tổn hại nặng nề đến môi trường sinh thái. Ngược lại, cụm ngành du lịch đạt doanh thu tăng trưởng từ 95 tỷ đồng năm 2005 lên 327 tỷ đồng năm 2012, sở hữu lợi thế độc nhất từ Công viên Địa chất Toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn (được UNESCO công nhận năm 2010) và Di tích Quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì (công nhận năm 2012).
Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Hà Giang đang đối mặt với mâu thuẫn chính sách gay gắt giữa bảo tồn tài nguyên du lịch và cấp phép khai thác khoáng sản bừa bãi. Việc khai thác mỏ sắt, mangan lộ thiên tại các huyện vùng cao đã phá hủy cảnh quan thiên nhiên và làm hư hỏng nghiêm trọng hạ tầng giao thông độc đạo, làm tăng chi phí vận tải lên gấp 1,87 đến 1,90 lần so với vùng đồng bằng.
Phân tích mô hình kim cương đối với cụm ngành du lịch cho thấy những điểm nghẽn nghiêm trọng về hạ tầng và thể chế. Hệ thống lưu trú và dịch vụ ăn uống còn sơ khai; bốn huyện vùng cao nguyên đá đối mặt với tình trạng thiếu nước sinh hoạt trầm trọng trong mùa khô; toàn tỉnh chỉ có 1 cơ sở đào tạo nghề du lịch với chỉ tiêu 50 học viên/năm; và hoàn toàn thiếu vắng các dịch vụ cứu trợ y tế khẩn cấp phục vụ du khách quốc tế. Việc so sánh với các nghiên cứu phát triển vùng khác khẳng định Hà Giang không thể tiếp tục chiến lược dựa vào khai thác tài nguyên thô mà bắt buộc phải chuyển sang phát triển cụm ngành dịch vụ thâm dụng lao động có giá trị văn hóa độc bản.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích định lượng và mô hình kim cương, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Hà Giang giai đoạn 2014 - 2020:
-
Thứ nhất, tái định vị ưu tiên chính sách cấp tỉnh và kiên quyết dừng cấp phép khai thác khoáng sản mới: Ủy ban nhân dân tỉnh cần ban hành Nghị quyết chuyên đề xác định Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn số một, thay thế cho chiến lược dàn trải tám đột phá. Chấm dứt gia hạn giấy phép cho các mỏ khoáng sản quy mô nhỏ gây ô nhiễm môi trường, đồng thời thiết lập hành lang bảo vệ nghiêm ngặt vùng di sản Cao nguyên đá Đồng Văn trong giai đoạn 2014 - 2016.
-
Thứ hai, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật chuyên dụng và giải quyết bài toán an ninh nguồn nước: Sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Sở Xây dựng tập trung tối thiểu 35% vốn đầu tư phát triển công để xây dựng mạng lưới hồ treo trữ nước tại 4 huyện vùng cao núi đá (Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ). Triển khai nâng cấp tuyến Quốc lộ 4C và mở rộng các điểm dừng chân ngắm cảnh đạt tiêu chuẩn quốc tế trước năm 2018.
-
Thứ ba, đột phá đào tạo nguồn nhân lực du lịch bản địa gắn liền với sinh kế cộng đồng: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì nâng cấp quy mô đào tạo nghề du lịch tại Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh từ 50 chỉ tiêu lên 500 chỉ tiêu/năm vào năm 2017. Tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ homestay, ngoại ngữ cơ bản và an toàn vệ sinh thực phẩm cho trên 1.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại các làng văn hóa du lịch cộng đồng.
-
Thứ tư, hoàn thiện thể chế cụm ngành và cải thiện môi trường kinh doanh cấp tỉnh: Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh phối hợp với Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch thành lập Hiệp hội Du lịch Hà Giang nhằm liên kết các doanh nghiệp lữ hành, vận tải và lưu trú. Mục tiêu nâng chỉ số PCI của tỉnh từ vị trí 53 lên nhóm 30 tỉnh dẫn đầu cả nước, cắt giảm 30% thời gian giải quyết thủ tục đăng ký kinh doanh và cấp phép đầu tư dự án du lịch sinh thái.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Lãnh đạo và cơ quan tham mưu chính sách công cấp tỉnh: Cung cấp khung luận cứ khoa học để xây dựng Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Giang giai đoạn 2021 - 2030, hỗ trợ chuyển đổi phương thức chỉ đạo điều hành từ dàn trải sang tập trung phát triển cụm ngành mũi nhọn.
- Các nhà đầu tư và doanh nghiệp du lịch - dịch vụ: Tài liệu giúp nhận diện thị trường mục tiêu, thấu hiểu cấu trúc chuỗi giá trị du lịch vùng cao nguyên đá, từ đó thiết kế các sản phẩm du lịch khám phá (trekking), du lịch khoa học địa chất và đầu tư hệ thống cơ sở lưu trú đạt chuẩn.
- Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế phát triển: Cung cấp khung phân tích chuẩn mực về ứng dụng mô hình Kim cương của Michael Porter trong phân tích năng lực cạnh tranh cấp địa phương tại các tỉnh miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao.
- Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế: Làm căn cứ để thiết kế và tài trợ các dự án giảm nghèo dựa vào cộng đồng, bảo tồn di sản địa chất và phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp đặc sản (chè Shan Tuyết, mật ong bạc hà) liên kết với du lịch.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao tăng trưởng GDP cao nhưng Hà Giang vẫn là tỉnh nghèo đặc biệt khó khăn?
Tăng trưởng GDP bình quân 11,71% trong giai đoạn 2002 - 2011 chủ yếu được thúc đẩy bởi dòng vốn đầu tư công từ Trung ương vào các công trình xây dựng cơ bản và chi tiêu quản lý hành chính, thay vì xuất phát từ năng lực sản xuất nội tại của doanh nghiệp. Đa số người dân (hơn 70%) vẫn canh tác nông nghiệp tự cung tự cấp với năng suất cây lương thực chỉ đạt 4,1 tấn/ha, khiến thu nhập thực tế chậm cải thiện.
Vì sao Hà Giang không nên ưu tiên phát triển cụm ngành khai thác khoáng sản?
Dù có 215 điểm mỏ thuộc 28 loại khoáng sản, phần lớn các mỏ tại Hà Giang có trữ lượng nhỏ với thời gian khai thác dưới 20 năm, buộc doanh nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu để thu hồi vốn nhanh. Khai thác mỏ lộ thiên tàn phá nghiêm trọng môi trường sinh thái, làm hư hỏng hạ tầng giao thông và triệt tiêu trực tiếp lợi thế phát triển du lịch di sản toàn cầu.
Mô hình Kim cương của Michael Porter đóng vai trò gì trong luận văn này?
Mô hình Kim cương giúp đánh giá toàn diện 4 yếu tố cấu thành sức cạnh tranh của cụm ngành du lịch: các yếu tố đầu vào (tài nguyên di sản độc đáo nhưng thiếu nước và nhân lực), điều kiện cầu (sự khác biệt giữa khách nội địa và quốc tế), ngành công nghiệp hỗ trợ (tiểu thủ công nghiệp, nông sản bản địa), và cấu trúc cạnh tranh doanh nghiệp.
Yếu tố nào là điểm nghẽn lớn nhất kìm hãm cụm ngành du lịch Hà Giang phát triển?
Điểm nghẽn lớn nhất là sự yếu kém của hạ tầng xã hội và chất lượng nguồn nhân lực khi tỷ lệ lao động không có kỹ năng chiếm 88,4% và tỷ lệ bỏ học ở cấp phổ thông rất cao. Thêm vào đó, tình trạng thiếu nước sinh hoạt trầm trọng tại bốn huyện vùng cao núi đá vào mùa khô tạo rào cản kỹ thuật lớn cho các cơ sở lưu trú du lịch đạt chuẩn.
Làm thế nào để nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số thông qua cụm ngành du lịch?
Phát triển mô hình du lịch cộng đồng (homestay) kết hợp với chuỗi cung ứng nông nghiệp đặc sản và 15 làng nghề thủ công truyền thống như dệt thổ cẩm, mây tre đan. Việc giữ chân du khách quốc tế trải nghiệm văn hóa bản địa sẽ tạo việc làm phi nông nghiệp trực tiếp, giúp phân phối lại thu nhập từ du khách tới các hộ gia đình nghèo.
Kết luận
- Luận văn đã chứng minh tăng trưởng kinh tế của Hà Giang giai đoạn 2001 - 2011 mang tính ngắn hạn do phụ thuộc sâu sắc vào trợ cấp Trung ương và chi tiêu công, trong khi năng suất lao động xã hội cải thiện rất chậm.
- Tỉnh gặp bất lợi lớn về vị trí địa lý chia cắt, quy mô thị trường nội địa nhỏ hẹp và chất lượng nguồn nhân lực thấp với 88,4% lao động chưa qua đào tạo chuyên môn.
- Cụm ngành Du lịch được xác định là trụ cột phát triển kinh tế bền vững duy nhất nhờ sở hữu lợi thế di sản toàn cầu độc bản và khả năng tạo việc làm cho hơn 70% lao động nông thôn.
- Chính quyền tỉnh cần từ bỏ tư duy phát triển dàn trải, kiên quyết thu hồi các dự án khai khoáng xâm hại di sản, tập trung vốn công giải quyết hạ tầng nước sạch và nâng cao chất lượng đào tạo nghề du lịch.
- Giai đoạn 2014 - 2020 là khung thời gian bản lề để thiết lập thể chế liên kết công tư và đưa du lịch Hà Giang trở thành thương hiệu quốc gia.
Để tiếp cận toàn bộ hệ thống số liệu phân tích, biểu đồ dịch chuyển cấu phần và các khuyến nghị chính sách chi tiết, bạn hãy tham khảo trực tiếp văn bản toàn văn luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công của tác giả Nguyễn Anh Đức tại Thư viện Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.