Tổng quan nghiên cứu
Bình Thuận từ lâu đã được mệnh danh là thủ phủ thanh long của cả nước, đóng góp hơn 10% tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) và tạo sinh kế bền vững cho hàng chục ngàn nông hộ. Tuy nhiên, sự phát triển ồ ạt đã đẩy diện tích canh tác năm 2013 lên tới 20.185 ha, vượt xa mức quy hoạch 15.087 ha được phê duyệt cho năm 2015, với tổng sản lượng đạt khoảng 400.000 tấn. Sự tăng trưởng nóng này đang đặt cụm ngành trước những điểm nghẽn nghiêm trọng: năng suất bình quân có xu hướng suy giảm do quá tải nguồn điện, nguồn nước; giá cả biến động bất ổn khi giá nghịch vụ cao gấp 2 đến 6 lần chính vụ; và chất lượng chưa đồng đều khi tỷ lệ đạt chuẩn GlobalGAP chỉ chiếm 1,1% diện tích (với 222,7 ha trên tổng số 20.185 ha).
Đáng lo ngại hơn, cụm ngành đang phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc khi xuất khẩu sang quốc gia này chiếm tới 80% – 85% sản lượng, chủ yếu qua đường tiểu ngạch đầy rủi ro. Trong khi đó, thị trường nội địa với 90 triệu dân chưa được khai thác hiệu quả khi mức tiêu thụ bình quân chưa tới 1 kg/người/năm. Trước bối cảnh các đối thủ như Thái Lan và Trung Quốc đang gia tăng năng lực cạnh tranh, luận văn tập trung phân tích toàn diện thực trạng cụm ngành thanh long Bình Thuận giai đoạn 2005 – 2013 dựa trên khung lý thuyết của Michael E. Porter. Mục tiêu cụ thể là nhận diện các mắt xích yếu kém trong chuỗi liên kết và cấu thành năng lực cạnh tranh, từ đó đề xuất hệ thống chính sách công khả thi nhằm tái cơ cấu vùng trồng, nâng chuẩn chất lượng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng mô hình Kim cương mở rộng của Michael E. Porter làm khung phân tích chủ đạo để đánh giá lợi thế cạnh tranh của cụm ngành. Mô hình này xem xét sự tương tác đa chiều giữa bốn yếu tố nội tại: điều kiện nhân tố sản xuất, điều kiện về cầu, chiến lược - cấu trúc và đối thủ cạnh tranh, cùng các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; kết hợp với vai trò điều tiết, kiến tạo của chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết thể chế dung hợp của Daron Acemoglu và James Robinson nhằm lý giải tác động của môi trường kinh doanh minh bạch đối với việc giải phóng nguồn lực kinh tế nông thôn.
Các khái niệm trọng tâm xuyên suốt nghiên cứu bao gồm: năng lực cạnh tranh cụm ngành nông nghiệp, chuỗi giá trị nông sản, tiêu chuẩn thực hành nông nghiệp tốt (GlobalGAP và VietGAP), mã số đơn vị sản xuất (PUC - Production Unit Code) và mã số nhà đóng gói (PHC - Packing House Code).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích đối chiếu dữ liệu thứ cấp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu trực tiếp 20 nông hộ canh tác với quy mô đa dạng (từ dưới 1 ha đến trên 10 ha) tại 4 địa bàn trọng điểm: Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình và Phan Thiết. Tác giả cũng phỏng vấn trực tiếp 5 doanh nghiệp thu mua, đóng gói, xử lý nhiệt và đại diện lãnh đạo các tổ chức chuyên môn như Trung tâm Nghiên cứu phát triển cây thanh long Bình Thuận, Hiệp hội Thanh long Bình Thuận, Viện Cây ăn quả miền Nam, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, Chi cục Thủy lợi và Điện lực Phan Thiết.
Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm bao quát đầy đủ các mắt xích trong chuỗi giá trị từ sản xuất, thu mua đến xuất khẩu. Phương pháp phân tích định tính được ưu tiên lựa chọn vì giúp làm sáng tỏ các mối quan hệ tác động phi tuyến tính giữa thể chế, hạ tầng kỹ thuật, hành vi ứng xử của nông hộ và rào cản thâm nhập thị trường quốc tế mà các mô hình kinh tế lượng đơn thuần khó đo lường trọn vẹn. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2005 – 2012, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) giai đoạn 2005 – 2013, chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) giai đoạn 2011 – 2013 và các báo cáo chuyên ngành.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tình trạng phát triển nóng vượt quy hoạch 33,8% (đạt 20.185 ha so với quy hoạch 15.087 ha) đã gây quá tải trầm trọng hệ thống hạ tầng năng lượng và thủy lợi. Toàn tỉnh có hơn 8.500 trạm biến áp phục vụ chong đèn trái vụ với mức tiêu thụ khoảng 300 triệu kWh, nhưng ngành điện buộc phải cắt giảm 50% công suất trạm biến áp để chống quá tải. Điều này khiến người trồng thanh long lãng phí ít nhất hơn 616 tỷ đồng chi phí đầu tư hạ thế (trung bình 145 – 170 triệu đồng cho một bình hạ thế 50 – 75 kW). Về nguồn nước, dù có 16 hồ chứa thủy lợi với dung tích 242,81 triệu m3 và 2 hồ thủy điện dung tích 1.015 triệu m3, hệ thống kênh mương mới chỉ đáp ứng tưới tiêu cho hơn 40% diện tích, phần còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào khai thác nước ngầm.
Thứ hai, mức độ chuẩn hóa chất lượng an toàn thực phẩm còn rất thấp khi chỉ có 10 trên tổng số 694 đơn vị trồng theo GAP đạt chứng nhận GlobalGAP với diện tích 222,7 ha, chiếm vỏn vẹn 1,1% tổng diện tích canh tác. Đối với tiêu chuẩn VietGAP, có tới 90% số hộ được phỏng vấn đã từ bỏ hoặc không duy trì quy trình do chi phí sản xuất cao nhưng giá thu mua bị thương lái cào bằng với thanh long sản xuất thông thường.
Thứ ba, cơ cấu thị trường xuất khẩu mất cân đối nghiêm trọng và chịu áp lực cạnh tranh gay gắt từ logistics. Thị trường Trung Quốc chiếm 52% kim ngạch xuất khẩu chính ngạch năm 2013 (đạt 11,68 triệu USD) và chiếm 80% – 85% tổng sản lượng qua kênh tiểu ngạch. Ngược lại, xuất khẩu sang các thị trường giá trị cao như Hoa Kỳ chỉ đạt 94,2 tấn (trị giá 200 ngàn USD) giai đoạn 2008 – 2010 và không có kim ngạch trong năm 2012. Bên cạnh đó, phí chiếu xạ thanh long tại Việt Nam lên tới 1,0 USD/kg, cao gấp hơn 4,1 lần mức 0,24 USD/kg của Thái Lan; cước tàu biển xuất khẩu của Việt Nam cũng cao hơn Thái Lan từ 10% – 15%, làm suy giảm đáng kể sức cạnh tranh quốc tế.
Thảo luận kết quả
Thực trạng trên bắt nguồn từ "cuộc đua xuống đáy" (race to the bottom) giữa các nông hộ. Do thương lái Trung Quốc chuộng hình thức quả to trên 500g, tai xanh dài và không kiểm tra dư lượng hóa chất, nông dân đã lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón kích thích tăng trưởng để tối đa hóa sản lượng ngắn hạn. Tình trạng này khiến các doanh nghiệp xuất khẩu không thể gom đủ nguồn hàng đạt chuẩn khi có đơn đặt hàng từ các thị trường khắt khe như EU, Nhật Bản hay Hoa Kỳ.
Trong khi đó, các đối thủ trong khu vực đang vươn lên mạnh mẽ. Thái Lan đã đưa thanh long vào danh mục trái cây xuất khẩu chiến lược từ năm 2009 với chỉ số năng lực logistics (LPI) đạt 3,18 (vượt trội so với mức 3,0 của Việt Nam). Trung Quốc cũng đẩy mạnh các dự án trồng thanh long quy mô hàng trăm hecta tại Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam từ năm 2003 nhằm chủ động thay thế nguồn nhập khẩu từ Việt Nam.
Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu có thể được thể hiện qua ba dạng trực quan: biểu đồ đường kết hợp hai trục phản ánh nghịch lý giữa diện tích tăng nhanh từ 5.000 ha lên 20.185 ha nhưng năng suất bình quân lại sụt giảm giai đoạn 2005 – 2013; biểu đồ tròn cơ cấu kim ngạch xuất khẩu chính ngạch minh họa sự mất cân đối khi Trung Quốc chiếm 52%, Hà Lan 16%, Indonesia 15% trong khi các thị trường phát triển khác dưới 1%; và bảng ma trận đánh giá năng lực cạnh tranh cụm ngành tổng hợp các điểm nghẽn về hạ tầng, giống, R&D và liên kết thị trường.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, tái cơ cấu quy hoạch vùng trồng và tổ chức phân nhóm nguồn cung (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp Hiệp hội Thanh long Bình Thuận; thực hiện trong giai đoạn 2014 – 2016). Cần phân loại nhà cung cấp thành hai nhóm rõ rệt: nhóm tiên phong gồm các trang trại, doanh nghiệp lớn đủ nguồn lực để mở rộng diện tích GlobalGAP từ 222,7 ha (1,1%) lên 2.000 ha (khoảng 10% tổng diện tích) vào năm 2017 nhằm phục vụ thị trường cao cấp; nhóm còn lại tiếp tục cung ứng hàng tiêu dùng phổ thông và làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.
Thứ hai, tháo gỡ nút thắt hạ tầng năng lượng và giao thông nông thôn (Sở Công Thương, Công ty Điện lực Bình Thuận và UBND các huyện; triển khai trong giai đoạn 2014 – 2018). Kiến nghị Bộ Công Thương điều chỉnh cơ chế giá mua điện gió để phát huy công suất nhà máy phong điện Tuy Phong 30 MW, giải tỏa áp lực cắt giảm 50% công suất cho hơn 8.500 trạm biến áp chong đèn. Đồng thời, chính quyền cấp xã cần phát động phong trào nhà nước và nhân dân cùng làm để bê tông hóa 100% các tuyến đường nội đồng nhỏ hơn 3m, giảm tỷ lệ dập nát quả khi vận chuyển.
Thứ ba, ban hành chính sách tín dụng chuyên biệt và đẩy mạnh nghiên cứu giống mới (Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bình Thuận phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ; thực hiện trong giai đoạn 2015 – 2020). Xây dựng gói tín dụng cho vay ưu đãi với hạn mức tăng thêm khoảng 80 triệu đồng/ha cho các hộ cam kết chuyển đổi sang GlobalGAP, chấp nhận hình thức thế chấp bằng tài sản vườn cây. Đẩy mạnh hợp tác với Viện Cây ăn quả miền Nam để chuyển giao các giống chất lượng cao như giống tím hồng LĐ5 (năng suất 30 – 40 tấn/ha) và nghiên cứu các dòng thanh long vỏ vàng.
Thứ tư, chuẩn hóa kênh phân phối và kiểm soát thương mại biên mậu (Sở Công Thương, Công an tỉnh và Hiệp hội Thanh long Bình Thuận; thực hiện thường xuyên từ năm 2014). Tăng cường kiểm tra thị thực và tư cách pháp nhân để chấm dứt tình trạng thương nhân nước ngoài thu mua trái phép tại vườn. Hiệp hội Thanh long cần vận hành cổng thông tin thị trường điện tử cập nhật giá hàng ngày, nâng cao vị thế đàm phán hợp đồng chính ngạch và bảo vệ quyền lợi hội viên trước biến động thị trường.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách cấp tỉnh (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, UBND tỉnh Bình Thuận). Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để rà soát quy hoạch 20.185 ha thanh long, điều chỉnh các văn bản quản lý như Quyết định số 03/2010/QĐ-UBND về phát triển rau quả an toàn và Quyết định số 14/2011/QĐ-UBND về chỉ dẫn địa lý.
Thứ hai, các doanh nghiệp xuất khẩu và cơ sở đóng gói nông sản. Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về tiêu chuẩn kỹ thuật (hệ thống 74 mã số PUC và 8 mã số PHC được Hoa Kỳ cấp phép), công nghệ chiếu xạ và xử lý nhiệt hơi nước nóng, giúp doanh nghiệp xây dựng lộ trình thâm nhập các thị trường cao cấp thay vì phụ thuộc vào 52% kim ngạch chính ngạch từ Trung Quốc.
Thứ ba, các hợp tác xã nông nghiệp và chủ trang trại quy mô lớn. Tài liệu giúp người sản xuất nắm bắt bài toán kinh tế khi đầu tư 80 triệu đồng/ha chuyển đổi sang GlobalGAP, tối ưu hóa chi phí điện chong đèn và nâng cao hiệu quả thương thảo giá bán thông qua mô hình liên kết nhóm.
Thứ tư, các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên sau đại học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển. Luận văn là tài liệu tham khảo thực chứng điển hình về việc vận dụng mô hình Kim cương của Michael E. Porter trong phân tích cụm ngành nông nghiệp nhiệt đới tại các nền kinh tế đang chuyển đổi.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao thanh long Bình Thuận phụ thuộc tới 80% – 85% sản lượng vào thị trường Trung Quốc?
Do thị trường Trung Quốc ưa chuộng quả to trên 500g, màu sắc bắt mắt phục vụ nhu cầu tâm linh và không kiểm soát khắt khe dư lượng hóa chất. Trong khi đó, toàn tỉnh chỉ có 1,1% diện tích đạt chuẩn GlobalGAP, khiến nông sản Bình Thuận thiếu nguồn cung đạt chuẩn để xuất khẩu sang các thị trường phát triển như EU hay Hoa Kỳ.
Nguyên nhân nào khiến nông dân không mặn mà duy trì tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP?
Chi phí để đạt chứng nhận GlobalGAP tăng thêm khoảng 80 triệu đồng/ha (trong đó chi phí đào tạo và cấp chứng nhận là 27 triệu đồng/ha cho 3 năm). Tuy nhiên, thương lái thu mua thanh long đạt chuẩn GAP bằng giá thanh long thông thường, khiến người trồng chịu thiệt hại chi phí mà không nhận được giá trị chênh lệch tương xứng.
Điểm nghẽn hạ tầng lớn nhất trong kỹ thuật chong đèn trái vụ là gì?
Toàn tỉnh có trên 8.500 trạm biến áp phục vụ chong đèn nhưng Công ty Điện lực Bình Thuận chỉ cho phép vận hành 50% công suất để tránh quá tải lưới điện. Điều này khiến nông dân chịu lãng phí hơn 616 tỷ đồng chi phí đầu tư bình hạ thế (trung bình 145 – 170 triệu đồng/trạm).
Thái Lan đang tạo ra sức ép cạnh tranh như thế nào đối với thanh long Việt Nam?
Thái Lan đã đưa thanh long vào danh mục xuất khẩu chiến lược từ năm 2009 với lợi thế vượt trội về chi phí chiếu xạ (0,24 USD/kg so với 1,0 USD/kg của Việt Nam), cước vận tải biển thấp hơn 10% – 15% và chỉ số logistics LPI đạt 3,18 so với 3,0 của Việt Nam.
Luận văn đề xuất giải pháp cốt lõi nào để giải quyết vấn đề thao túng giá của thương lái?
Luận văn đề xuất tái cấu trúc Hiệp hội Thanh long Bình Thuận thành liên minh đàm phán giá chính ngạch, xây dựng website cập nhật giá thị trường hàng ngày và áp dụng chính sách phân nhóm nguồn cung tiên phong nhằm xóa bỏ hoàn toàn phương thức mua bán tiểu ngạch bất cân xứng thông tin.
Kết luận
- Luận văn hệ thống hóa toàn diện thực trạng và năng lực cạnh tranh cụm ngành thanh long Bình Thuận giai đoạn 2005 – 2013 thông qua mô hình Kim cương của Michael E. Porter.
- Phân tích rõ nét rủi ro phát triển nóng khi diện tích 20.185 ha vượt 33,8% quy hoạch năm 2015 và sự phụ thuộc lớn vào 80% – 85% sản lượng xuất khẩu sang Trung Quốc.
- Chỉ rõ các điểm nghẽn hạ tầng dẫn đến sự lãng phí hơn 616 tỷ đồng vốn đầu tư trạm điện hạ thế và rào cản chỉ 1,1% diện tích đạt chuẩn GlobalGAP.
- Xây dựng hệ thống giải pháp chính sách công khả thi giai đoạn 2014 – 2020 gồm phân nhóm nguồn cung, ưu đãi tín dụng 80 triệu đồng/ha và thắt chặt quản lý thương mại biên mậu.
- Khẳng định tính cấp thiết của việc chuyển đổi mô hình từ cạnh tranh bằng sản lượng tự nhiên sang cạnh tranh bằng chất lượng an toàn và giá trị gia tăng cao.
Công trình nghiên cứu của tác giả Lý Quốc Nam là tài liệu học thuật giá trị, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc cho các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và nông hộ trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của thanh long Bình Thuận trên thị trường quốc tế. Các bên liên quan cần nhanh chóng phối hợp hành động theo lộ trình khuyến nghị để thúc đẩy cụm ngành phát triển bền vững và thịnh vượng.