chương 1 giới thiệu bối cảnh, vấn đề, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Nội dung chương 2 trình bày khung phân tích năng lực cạnh tranh của Michael E. Porter theo đặc thù ngành thanh long. Ở chương 3, tác giả áp dụng lý thuyết, dữ liệu thu thập được để phân tích.
Cuối cùng là chương 4, nêu kết luận, trả lời hai câu hỏi nghiên cứu và đề xuất chính sách. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT, NGUỒN THÔNG TIN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh là hiện tượng tất yếu và có ý nghĩa sống còn đối với phát triển kinh tế mỗi quốc gia. Hiện tượng cạnh tranh có những nét chính: Thứ nhất, cạnh tranh là hiện tượng tất yếu, phổ biến, vừa là nhân vừa là quả của sự vận động thị trường.
Lợi ích kinh tế từ trái thanh long là động lực để nông dân tìm cách tăng năng suất và chất lượng sản phẩm để cạnh tranh với người khác. Nhờ sự cạnh tranh đó, những kỹ thuật, phát kiến ra đời, độ tinh vi tăng lên. Thứ hai, cạnh tranh có tác động tích cực lẫn tiêu cực. Cạnh tranh là động lực thúc đẩy các chủ thể kinh doanh, vì sự sống còn của mình, buộc phải cải thiện sản xuất hiệu quả hơn.
Rất nhiều nông dân đã trở thành những chuyên gia thanh long, căn cứ tiết trời có thể xác định được lịch chong đèn sao cho thời gian ngắn nhất mà vẫn đảm bảo năng suất. Nhưng bên cạnh đó, nhiều nông hộ đã lao vào cuộc đua cạnh tranh xuống đáy, không trồng theo GAP để giảm chi phí. Ở tầm vĩ mô, cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích như kích sản xuất, giúp kinh tế tăng trưởng và địa phương phát triển. Gần như tất cả nông dân trồng thanh long đều công nhận rằng mình khá giả hơn, bộ mặt nông thôn tại những vùng trồng thanh long khởi sắc.
Cạnh tranh thúc đẩy đa dạng hóa sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và nảy sinh những nhu cầu mới, làm cho xã hội tiến bộ hơn. Nếu như trước đây mỗi nông hộ đều phải tự mình làm mọi khâu từ đúc trụ, giăm hom (cành giống), chăm sóc đến thu hoạch… thì hiện nay tất cả các khâu này đều có lực lượng lao động chuyên nghiệp, giúp các chủ vườn có thể mở rộng sản xuất, hoàn thành công việc đúng kế hoạch, đồng thời mang lại thu nhập khá cao cho những nhân công này (200.000 đồng/ngày công). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Ở góc độ vi mô, cạnh tranh có vai trò làm cho nhà sản xuất phải nỗ lực sáng tạo những sản phẩm tốt hơn để thu hút khách hàng. Với độ am hiểu cây thanh long ngày càng cao, rất nhiều nông dân hiện nay có thể tính toán ngày khởi đầu mùa vụ sao cho kỳ thu hoạch trùng với những dịp bán đắt hàng như tết Nguyên đán, các ngày rằm, mùng một… Bên cạnh đó, cạnh tranh cũng giúp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng vốn không ngừng tăng lên nhưng với chi phí rẻ hơn.
Nếu như 20 năm trước, mỗi năm chỉ có một mùa thanh long với giá (đầu mùa) 10 kg tương đương 1 chỉ vàng, thì nay có quả thanh long hầu như quanh năm với giá rẻ hơn nhiều. Bên cạnh nhiều yếu tố tích cực đó, cạnh tranh cũng mang lại những hậu quả tiêu cực cho xã hội lẫn kinh tế. Cấu trúc xã hội trên phương diện sở hữu của cải thay đổi, phân hóa giàu nghèo sâu sắc. Trong khi những nông hộ có ruộng đất ở vùng thuận lợi trồng thanh long đã trở nên giàu có, thì nhiều nông dân khác vẫn còn nghèo vì mảnh đất của họ không thích hợp với cây thanh long.
Giữa các nông dân xảy ra cạnh tranh không lành mạnh để giành thắng lợi. Để có được trái thanh long đẹp mắt, bán được giá cao, nông dân đã sử dụng nhiều hóa chất đến nỗi họ phải trồng riêng vài trụ cho gia đình. Để phát huy mặt tích cực, hạn chế khía cạnh tiêu cực, các cơ quan quản lý nhà nước tại Bình Thuận cần điều phối, tạo môi trường kinh doanh công bằng, kiểm soát độc quyền và xử lý cạnh tranh không lành mạnh. Ở cấp độ cụm ngành, chính quyền địa phương cần có những chính sách hỗ trợ cạnh tranh lành mạnh, bền vững, thích hợp để bảo vệ cụm ngành thanh long trước sự lớn lên của các cụm ngành đối thủ ở Thái Lan, Trung Quốc.
Hiện nay, khái niệm cạnh tranh đã chuyển từ đối kháng, sang học hỏi lẫn nhau để cùng phát triển. Nhiều nông hộ thanh long tại Bình Thuận đã liên kết nhau thành từng nhóm sản xuất, mang lại nhiều lợi ích như chia sẻ kinh nghiệm, đổi công và giảm mất cắp… Năng lực cạnh tranh của một chủ thể kinh tế hiện nay là chất lượng và sự khác biệt sản phẩm so với đối thủ. Năng lực cạnh tranh của một cụm ngành là khả năng tạo ra một môi trường kinh doanh tự do, công bằng để các thành phần tạo nên cụm ngành phát huy tối đa năng lực sản xuất của mình, tạo ra những sản phẩm giá trị cao hơn đối thủ. Một thể chế dung hợp theo quan điểm của Acemoglu và Robinson sẽ là môi trường giúp năng lực cạnh tranh phát triển.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mô hình kim cương Tuy khái niệm cạnh tranh đã sớm được nghiên cứu nhưng vấn đề lợi thế cạnh tranh và chủ đề nghiên cứu lợi thế cạnh tranh một cách bài bản chỉ mới xuất hiện trong thập niên 1980. Nhà kinh tế học Michael E. Porter đã đưa ra nhiều nghiên cứu và lý thuyết về lợi thế cạnh tranh được đông đảo đồng nghiệp công nhận.
Ông được xem là chuyên gia nổi bật nhất, với nhiều quyển sách và nghiên cứu về cạnh tranh làm cơ sở để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, địa phương hay thậm chí cả quốc gia. Trong quyển "Lợi thế cạnh tranh", Michael E. Porter đã chỉ ra rằng lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nhiều yếu tố, không chỉ nằm ở bản thân mỗi hoạt động mà còn ở mối liên kết các hoạt động với nhau. Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Porter là công cụ để phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của một cụm ngành.
Lợi thế cạnh tranh tốt cần bắt nguồn từ nhiều hoạt động khác nhau, nếu hoạt động đơn điệu sẽ dễ bị đối thủ vượt qua. 12), có bốn yếu tố chính tương tác lẫn nhau để tạo nên năng lực cạnh tranh của một cụm ngành, được gọi là “Mô hình kim cương”. Mô hình kim cương (mở rộng): Vai trò của chính quyền địa phương Bối cảnh chiến lược và sự cạnh tranh Các điều kiện về Các điều kiện về cầu nhân tố đầu vào Các ngành hỗ trợ và liên quan Nguồn: Porter và Ketels (2010), được phát triển bởi Vũ Thành Tự Anh (2011), trích trong Nguyễn Vũ Giang Hà (2012). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Bối cảnh chiến lược và sự cạnh tranh của doanh nghiệp: Các điều kiện, chiến lược hoạt động và cạnh tranh của các doanh nghiệp bên trong cụm ngành.
Các điều kiện về nhân tố sản xuất: Vị thế của các yếu tố đầu vào trong cụm ngành, như trình độ nhân lực, khả năng đáp ứng của cơ sở hạ tầng, chất lượng nguyên vật liệu… Lợi thế cạnh tranh trước tiên được tạo ra nhờ các nhân tố sản xuất chuyên môn hóa cao, và sau đó phải không ngừng cải tiến các nhân tố này. Các điều kiện về cầu: Các điều kiện nhu cầu trong nước giúp cho việc xây dựng lợi thế cạnh tranh khi nhu cầu trong nước tạo cho cụm ngành một bức tranh rõ hơn hay sớm hơn về các nhu cầu sắp xuất hiện của người mua so với các đối thủ nước ngoài có thể thấy được. Các ngành hỗ trợ và liên quan: Lợi thế cạnh tranh của cụm ngành sẽ gia tăng nếu như các ngành hỗ trợ và liên quan đến cụm ngành đó có khả năng cạnh tranh tốt, không chỉ trong nước mà còn với nước ngoài. Nguồn thông tin Tác giả lấy thông tin từ các tổ chức: Trung tâm Nghiên cứu phát triển cây thanh long Bình Thuận, Hiệp hội Thanh long Bình Thuận, Sở NN&PTNT Bình Thuận, Sở Công Thương Bình Thuận, Cục Thống kê Bình Thuận, Chi cục Bảo vệ thực vật Bình Thuận, Chi cục Thủy lợi Bình Thuận, Điện lực Phan Thiết, Viện cây ăn quả miền Nam và phỏng vấn trực tiếp 20 nông hộ trồng thanh long tại Bình Thuận, 5 cơ sở/doanh nghiệp thu mua thanh long và cung cấp dịch vụ xử lý nhiệt trái cây5.
Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính. Phỏng vấn: Tác giả đến thực địa phỏng vấn trực tiếp một số cá nhân, tổ chức trong cụm ngành thanh long như nông dân, người thu mua, doanh nghiệp xuất khẩu, các cơ quan quản lý (Sở NN&PTNT, Trung tâm Nghiên cứu phát triển cây thanh long, Hiệp hội thanh long Bình Thuận…)6. Tác giả không phát phiếu câu hỏi cho đối tượng khảo sát mà phỏng 5 Xem danh sách người trả lời phỏng vấn ở phụ lục 2. 6 Xem chi tiết bảng câu hỏi tại phụ lục 2.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 vấn qua hình thức trò chuyện theo nội dung các câu hỏi được chuẩn bị trước, nhằm tạo sự thoải mái cho người trả lời. Tác giả đã phỏng vấn các nông dân có quy mô diện tích vườn khác nhau, từ trang trại trên 10 ha đến vườn nhỏ dưới 1 ha. Hai mươi cuộc phỏng vấn trực tiếp tại vườn của các nông dân tại Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Phan Thiết và Bắc Bình đã cho tác giả biết điểm mạnh, điểm yếu, thông tin về các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của cụm ngành. Đồng thời tác giả cũng ghi nhận những khó khăn và thuận lợi, nguyện vọng và đề xuất của nông dân.
Với tâm lý giữ bí mật kinh doanh, các doanh nghiệp thu mua, xuất khẩu thanh long ít cởi mở hơn so với các nông dân, nhưng qua phỏng vấn 5 doanh nghiệp cũng cho tác giả thấy những nét quan trọng trong bức tranh cụm ngành. Tất cả thông tin sơ cấp thu thập được tổng hợp và phân tích theo mục tiêu nghiên cứu. Tác giả đã phỏng vấn 5 doanh nghiệp có quy mô khác nhau, từ nhỏ (vựa) đến lớn (công ty). Ngoài ra, tác giả đến Viện cây ăn quả miền Nam để phỏng vấn và tham quan khả năng lai tạo giống thanh long mới ở đây.
Điều này giúp tác giả có sự đánh giá chính xác hơn khả năng hỗ trợ cụm ngành về giống mới của Viện.