phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được trình bày gồm 4 phần chính: - Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài - Chƣơng 2: Một số vấn đề lý luận chung về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. - Chƣơng 3: Thực trạng đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh tại HACC1 (HACC1) - Chƣơng 4: Một số giải pháp về đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại HACC1 (HACC1) 6 CHƢƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƢ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 2. Lý luận chung về cạnh tranh trong doanh nghiệp xây dựng 2. Một số thuật ngữ trong cạnh tranh 2.
Cạnh tranh a) Khái niệm Cạnh tranh là quy luật kinh tế của nền sản xuất hàng hóa. Trong lịch sử phát triển của các lý thuyết kinh tế, khái niệm cạnh tranh được định nghĩa theo nhiều định nghĩa khác nhau. Những người theo trường phái trọng nông đã phát hiện ý nghĩa của cạnh tranh thông qua sự biến động của giá cả. Theo quan điểm của họ thì “giá tự nhiên” bao hàm lao động chứa trong sản phẩm và địa tô.
Một khi trên thị trường xuất hiện một đột biến nào đó thì giá cả thị trường có thể chênh lệch với “giá tự nhiên” ít nhất trong ngắn hạn. Khi đó, cạnh tranh sẽ đóng vai trò tích cực trong việc điều chỉnh lượng cung cầu và làm cho giá thị trường trở lại mức “giá tự nhiên”. Cùng với quá trình phát triển của tư duy kinh tế, lý thuyết cạnh tranh ngày một hoàn thiện hơn như một nhân tố quan trọng đem lại sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Adam Smith là người đầu tiên đưa ra những lý thuyết tương đối hoàn chỉnh về cạnh tranh.
Luận thuyết của ông dựa trên ý tưởng về vai trò của “bàn tay vô hình”qua sự điều chỉnh biến động của giá cả thị trường và được thể hiện rõ nét qua mô hình cạnh tranh hoàn hảo. Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận và của người tiêu dùng là tối đa hóa tiện ích của mình, trên cơ sở đó thị trường sẽ phân bố tối ưu các nguồn lực khan hiếm.Smith cũng đề cao vai trò của 7 cạnh tranh trong ngoại thương là có thể rằng “điều có lợi chủ yếu trong việc tự do phát triển ngoại thương là có thể xuất khẩu sản phẩm dư thừa trong nước và nhập khẩu nguyên liệu cần thiết, từ đó có thể mở rộng sản xuất và hoàn thiện phân công lao động” Lý thuyết cạnh tranh hiện đại bắt nguồn từ lý thuyết về lợi thế so sánh. Lý thuyết này dựa vào sự khác nhau về các yếu tố sản xuất như lao động, vốn, tài nguyên giữa các quốc gia và một quốc gia sẽ có lợi thế cạnh tranh trong những ngành sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia đó tương đối dồi dào. Lý thuyết này cho thấy các quốc gia có thể xác định những ngành, những sản phẩm mà họ có lợi thế để phân bổ hiệu quả các nguồn lực và nâng cao lợi ích từ hoạt động ngoại thương.
Tuy nhiên lý thuyết này không đủ để giải thích tại sao các doanh nghiệp, các ngành lại thành công trên thị trường quốc tế với sự khác biệt về sản phẩm, về công nghệ và lợi thế nhờ quy mô trong kinh tế thị trường hiện đại. Đầu những năm 1940, lý thuyết “cạnh tranh hiệu quả” được xây dựng trên cơ sở luận điểm của nhà kinh tế Mỹ J.Clark: những nhân tố không hoàn hảo trên thị trường có thể được sửa chữa bằng những nhân tố không hoàn hảo khác. Chẳn hạn, tính không hoàn hảo của thị trường do có ít người cung ứng sẽ được cải thiện phần nào nhờ nhân tố không hoàn hảo khác như sự thiếu minh bach của thị trường và tính đa dạng của hàng hóa. Chính tính không hoàn hảo này sẽ làm giảm sự phụ thuộc lẫn nhau trong chính sách giá giữa các hãng ở thị trường tập quyền, tạo điều kiện cho các hoạt động cạnh tranh mang lại kết quả.
Clack đã tiếp thu luận điểm của Schumpeter – cạnh tranh phải bằng hình thức tổ chức mới – để xây dựng lý thuyết cạnh tranh hiệu quả. Theo đó, siêu lợi nhuận mà các doanh nghiệp tiên phong đạt được trên cơ sở lợi thế nhất thời vừa là hệ quả, vừa là tiền đề của cạnh tranh. Lợi nhuận này không nên xóa bỏ ngay lập tức mà chỉ nên giảm dần để doanh 8 nghiệp có thể có điều kiện thời gian tạo ra được do bằng sự giảm giá, tăng chất lượng hàng hóa cũng như hợp lý hóa trong quy trình sản xuất. Một trong những lý thuyết cạnh tranh được biết đến nhiều nhất trong những năm 1980 tới nay là lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của M.
Ông đã nghiên cứu cạnh tranh dưới nhiều giác độ - năng lực cạnh tranh quốc gia, chiến lược cạnh tranh ngành, lợi thế cạnh tranh của các chuỗi giá trị, cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế. Lý thuyết của Porter về lợi thế cạnh tranh giải thích hiện tượng thương mại hóa quốc tế ở góc độ doanh nghiệp tham gia cạnh tranh quốc tế và qua đó đã khắc phục được những thiếu sót trong lý thuyết lợi thế so sánh của trường phái cổ điển. Khác với các lý thuyết cạnh tranh trước đây chủ yếu chỉ thiên về nghiên cứu điều kiện kinh tế vĩ mô, lý thuyết của Porter nêu bật vai trò của doanh nghiệp trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Porter cũng phân biệt khái niệm lợi thế cạnh tranh và khái niệm lợi thế so sánh, theo đó “ lợi thế so sánh là một khái niệm kinh tế học, còn lợi thế cạnh tranh là khái niệm của khoa học quản lý”.
Lợi thế so sánh có liên quan tới cơ chế giá cả thị trường còn lợi thế cạnh tranh liên quan đến doanh nghiệp/ ngành, nhấn mạnh đến cạnh tranh phi giá cả. Lý luận về lợi thế so sánh sử dụng phương pháp cân bằng tổng quát và cân bằng tĩnh trong khi lợi thế cạnh tranh phân tích ở trạng thái động. Xét ở góc độ phân công quốc tế, lợi thế so sánh có tác dụng quyết định, xét ở góc độ cạnh tranh ngành thì lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh ngành cùng quyết định vị thế quốc tế và xu thế phát triển của các ngành. Theo Porter, sức cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào sức cạnh tranh của các ngành trong nền kinh tế.
Sức cạnh tranh của một ngành lại xuất phát từ năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành: khả năng đổi mới công nghệ, sản phẩm, cung cách quản lý của ngành và môi trường kinh doanh. Các đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất của nền kinh tế không đơn thuần chỉ là lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên mà còn là những đầu vào do chính doanh nghiệp hoặc Chính phủ 9 tạo ra. Nhìn chung, sự phát triển của lý thuyết cạnh tranh gắn liền với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường, thể hiện quá trình nhận thức về cạnh tranh theo sự phát triển của các hình thái thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế luôn tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trước các đối thủ khác nhằm đạt được vị thế cao hơn trên thị trường.
b) Các loại hình cạnh tranh Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được chia ra làm nhiều loại. * Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trƣờng Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường, cạnh tranh được chia làm 3 loại: - Cạnh tranh giữa người mua và người bán: người bán muốn bán hàng hóa của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua hàng hóa với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên. - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường.
Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hóa và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hóa mà họ cần. - Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn. * Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia thành 2 loại: - Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh 10 nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa hoặc dịch vụ.
Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển. - Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất. Trong quá trình này có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên nhất giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. *Căn cứ vào tính chất cạnh tranh Căn cứ vào tính chất, cạnh tranh được chia thành 3 loại: - Cạnh tranh hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường.
Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất mẫu mã. Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh, các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hóa sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh. - Cạnh tranh không hoàn hảo: là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Các sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành được ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
- Cạnh tranh độc quyền: Trên thị trường chỉ có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu.