CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Công ty chứng khoán 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của công ty chứng khoán a. Khái niệm, đặc điểm của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một loại hình định chế tài chính trung gian đặc biệt trên thị trường chứng khoán thực hiện các hoạt động kinh doanh chứng khoán như ngành nghề kinh doanh chính.
Trước hết công ty chứng khoán là tên gọi chỉ một loại doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán. Tuy nhiên, không phải bất kì chủ thể nào hoạt động kinh doanh chứng khoán đều là công ty chứng khoán. Chủ thể thuẹc hiện hoạt động kinh doanh, dịch vụ trên thị trường chứng khoán có nhiều loại chủ thể kinh doanh khác nhau như: công ty chứn khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán và một số chủ thể khác có cung cấp dịch vụ liên quan. Trong đó công ty chứng khoán là một loại chủ thể kinh doanh chủ yếu và quan trọng nhất.
Tại Việt Nam, theo Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 (sau này được sửa đổi bởi Lụât số 54/2019/QH14) thì Công ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty TNHH thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh theo Giấy phép do UBCKNN cấp, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán. Có thể khái quát các đặc điểm pháp lý cơ bản của công ty chứng khoán nói chung như sau: Một là, công ty chứng khoán là loại hình doanh nghiệp được thành lập, hoạt động trên cơ sở Luật chứng khoán và các quy định pháp luật liên có liên quan. Hai là, công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức pháp lý là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. 4 Ba là, công ty chứng khoán có hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh dịch vụ chứng khoán trên thị trường chứng khoán.
Các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm hoặc các công ty muốn tham gia kinh doanh chứng khoán phải thành lập CTCK độc lập. Vai trò của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán có vai trò quan trọng đối với những chủ thể khác nhau trên thị trường chứng khoán. Đối với các tổ chức phát hành: thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành. Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung gian.
Nguyên tắc này yêu cầu những nhà đầu tư và những nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán. Các công ty chứng khoán sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành. Và khi thực hiện công việc này, công ty chứng khoán đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua thị trường chứng khoán. Đối với các nhà đầu tư: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, công ty chứng khoán có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư.
Đối với thị trường chứng khoán, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những nhà đầu ttốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các công ty chứng khoán, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tưthực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả. Đối với thị trường chứng khoán. Đối với thị trường chứng khoán, công ty chứng khoán thể hiện hai vai trò chính: 5 (1) Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường.
Các công ty chứng khoán là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá. Trên thị trường sơ cấp, các công ty chứng khoán cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các công ty chứng khoán. Các công ty chứng khoán còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường.
Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã giành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường. (2) Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính. Trên thị trường cấp 1, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ dược mua bán giao dịch trên thị trường cấp 2. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư.
Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính. Đối với các cơ quan quản lý thị trường: Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường. Một trong những yêu cầu của thị trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý thị trường.
Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu. trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường. 6 Tóm lại, công ty chứng khoán là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành đối với các cơ quan quản lý thị trường và đối với thị trường chứng khoán nói chung.
Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ hoạt động của công ty chứng khoán. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán Hoạt động chính của CTCK bao gồm: hoạt động môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tư vấn tài chính. Các hoạt động này có thể được chia thành hai mảng hoạt động chính đó là hoạt động tự doanh và hoạt động cung cấp dịch vụ chứng khoán (bao gồm các hoạt động còn lại của CTCK). Hoạt động tự doanh Là một trong các hoạt động cơ bản của CTCK.
Hoạt động này được xem như là hoạt động đầu tư của CTCK vì khi tiến hành tự doanh CTCK phải bỏ tiền ra mua, công ty sẽ có lãi khi giá chứng khoán tăng và ngược lại, sẽ lỗ khi giá chứng khoán giảm. Do đó, hoạt động tự doanh của CTCK cũng chứa đựng tiềm ẩn rủi ro về sự biến động giá chứng khoán trên thị trường. Như vậy, hoạt động tự doanh là việc CTCK mua bán chứng khoán bằng nguồn vốn của mình để hưởng lợi, đồng thời cũng chấp nhận rủi ro từ hoạt động đó. Hoạt động môi giới Đối với CTCK, các hoạt động xuất hiện theo những nhu cầu của nhà đầu tư và theo sự phát triển của thị trường.
Hoạt động môi giới được xem là hoạt động xuất hiện đầu tiên đồng thời là hoạt động cơ bản nhất trong số các hoạt động mà một CTCK tiến hành triển khai. Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ đảm đương vai trò là nhà trung gian giúp cho nhà đầu tư thực hiện việc mua bán chứng khoán. CTCK với lợi thế có mạng lưới thông tin rộng khắp trên cả thị trường chính thức lẫn phi chính thức có thể cung cấp cho nhà đầu tư một bức tranh toàn cảnh về TTCK và giúp khách hàng có thể mua bán được chứng khoán ở bất kỳ thị trường nào. 7 Như vậy, hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động kết nối giữa những người cần mua và những người cần bán chứng khoán.
Sau mỗi giao dịch mua bán chứng khoán được thành công, cả bên mua và bên bán đều trả cho CTCK một khoản tiền, khoản tiền này được gọi là phí môi giới giao dịch. Khi TTCK chưa phát triển, hoạt động môi giới của các CTCK chỉ đơn giản dừng lại ở việc thực hiện các công việc như: nhận và chuyển lệnh giao dịch (mua/bán) chứng khoán của khách hàng; xác nhận kết quả giao dịch và thanh toán giao dịch đối với khách hàng; giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng. Tuy nhiên, TTCK ngày càng phát triển, lượng thông tin trên thị trường cũng ngày càng nhiều, lượng hàng hóa ngày càng đa dạng, các nhà đầu tư không thể nắm bắt cũng như xử lý lượng thông tin khổng lồ của thị trường. Do vậy, một nhu cầu mới của các khách hàng phát sinh, đó là nhu cầu được cung cấp thông tin và được tư vấn.
Do đó, hoạt động môi giới lúc này không chỉ đơn thuần là thực hiện việc mua bán hộ chứng khoán cho khách hàng mà còn chứa đựng hàm lượng tư vấn khá cao. Hoạt động bảo lãnh phát hành (BLPH) Khi tổ chức phát hành (TCPH) phát hành chứng khoán để tăng vốn, họ có nhiều cách để tiến hành. Để đợt phát hành thành công họ thường nhờ tới một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường giúp họ thực hiện các công việc liên quan tới đợt phát hành. Tổ chức tài chính trung gian này thường là các CTCK.