phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm ba chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thƣơng mại trên thị trƣờng bán lẻ Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Siêu thị Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Siêu thị Hà Nội 5 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP THƢƠNG MẠI TRÊN THỊ TRƢỜNG BÁN LẺ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh (Competition) về cơ bản đã xuất hiện rất lâu trong cuộc sống xã hội loài người khi xã hội xuất hiện sự tranh chấp, ganh đua trên các mặt đời sống kinh tế xã hội chính trị hay quân sự…nhằm tranh giành lợi thế sao cho tối đa nhất về mình. Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng rất rộng rãi cho tới ngày nay nhất là trên phương diện kinh tế.
Cạnh tranh trong nền kinh tế là một khái niệm có nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi sản phẩm, phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực kinh tế gồm nhiều quốc gia thành viên… tuỳ theo tính chất vi hay vĩ mô của phạm vi kinh tế đó. Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản K.Marx có định nghĩa cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch. Theo từ điển kinh doanh Anh xuất bản năm 1992 thì cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình.
Theo quan điểm của Marketing thì cạnh tranh là quá trình giành giật những lợi thế từ phía đối thủ về phía doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả tối ưu. Các khái niệm trên mặc dù có sự khác nhau nhưng đều tương đối thống nhất về bản chất của cạnh tranh, từ đó ta có thể hiểu phạm trù cạnh tranh là 6 z quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với người sản xuất - kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Cạnh tranh là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong thời điểm kinh tế thế giới từng bước đi vào toàn cầu hoá rất mạnh mẽ như hiện nay.
Cạnh tranh là cuộc chạy đua đường trường về kinh tế, không khoan nhượng, không có đích cuối cùng, chủ thể nào dừng lại giữa chừng sẽ bị tụt hậu và thất bại. Chính vì vậy, cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường, là động lực phát triển kinh tế của xã hội. Chính vì vậy để thắng được trong cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị phần, các doanh nghiệp, các ngành sản xuất sản phẩm phải tìm mọi biện pháp nhằm nâng cao được năng lực cạnh tranh của mình. Năng lực cạnh tranh Các khái niệm Trong môi trường cạnh tranh, một chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của mình trên thị trường đối với các chủ thể khác chính là biểu hiện khả năng chiếm lĩnh và phân phối sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) trên thị trường.
Vị thế đó, dựa trên những ưu thế nhất định về các điều kiện sản xuất và tiêu thụ hàng hoá hay nói chung là năng lực cạnh tranh (competitiveness) của chủ thể đó đối với thị trường. Năng lực cạnh tranh phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, tuy vậy thuật ngữ năng lực cạnh tranh là một khái niệm rất khó đo lường,không theo một tiêu chuẩn, hệ thống nhất định. Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần. Comment [U2]: nguồn tài liệu? 7 z Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế( OECD) định nghĩa năng lực cạnh tranh là khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững.
Từ những khái niệm trên, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được hiểu là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các điều kiện sản xuất vượt trội so với các doanh nghiệp đối thủ để giành ưu thế và thắng lợi trên một số phương diện nào đó trong quá trình cạnh như quy mô sản xuất hay các điều kiện thuộc về sản xuất, chiến sách và chiến lược kinh doanh, chiến lược phân phối, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng tài chính, chiến lược marketing, thương hiệu công ty, nhãn hiệu sản phẩm hoặc văn hoá công ty… mỗi điều kiện đó đều tạo ra khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường mục tiêu mà công ty hướng tới. Cấp độ năng lực cạnh tranh Theo tính chất và quy mô của các chủ thể kinh tế, năng lực cạnh tranh có thể phân loại thành 5 cấp độ sau đây: năng lực cạnh tranh cấp khu vực (liên quốc gia), năng lực cạnh tranh cấp quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp ngành, năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá. Mỗi hình thức cấp độ trên việc đánh giá, xây dựng hệ thống và nâng cao năng lực cạnh tranh lại có những tiêu chí, chiến lược khác nhau. Do vậy việc xác định cấp độ năng lực cạnh tranh của công ty cũng rất quan trọng từ đó nhằm đưa ra những tiêu chí, chiến lược cụ thể nhằm nâng cao khả năng cạnh một cách chính xác và phù hợp từng cấp độ.
Công ty siêu thị Hà Nội là doanh nghiệp chuyên kinh doanh lĩnh vực bán lẻ (Bằng các hình thức tổ chức các chuỗi siêu thị, cửa hàng tiện ích, nhượng quyền thương hiệu…) nên việc xác định về cơ bản là cấp độ năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp, chính vì vậy hệ thống các tiêu chí để đánh giá và nâng cao năng lực canh tranh của công ty bao gồm: Chiến lược, chính 8 z sách kinh doanh; Chất lượng nguồn nhân lực; Khả năng tổ chức nhân sự và vận hành kinh doanh; Sản phẩm, giá cả và cách thức tổ chức kênh phân phối; Mục tiêu thị phần; Chính sách Marketing; Khả năng ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại; Khả năng tài chính; Xây dựng thương hiệu; Mặt bằng và quy mô kinh doanh; Văn hóa doanh nghiệp. Vai trò của nâng cao năng lực cạnh tranh Việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế, điều đó được thể hiện ở các nội dung cơ bản sau: Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế mở ra cho các nước khả năng tiếp cận các nguồn đầu tư, các nguồn lực từ bên ngoài để phát triển nền kinh tế. Trước tình hình đó doanh nghiệp nào có sức kháng tốt thì sẽ tồn tại, doanh nghiệp nào yếu kém thì sẽ bị tiêu diệt, do đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều kiện tất yếu để các doanh nghiệp Việt Nam tồn tại và phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các doanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt với các đối thủ mạnh đến từ các tập đoàn bán lẻ xuyên quốc gía.
Các đối thủ này mạnh hơn hẳn các doanh nghiệp bán lẻ trong nước trên nhiều phương diện, từ tiềm lực tài chính, trình độ công nghệ - kỹ thuật, kinh nghiệm cạnh tranh trên thương trường đồng thời cuộc cạnh tranh diễn ra trong bối cảnh thị trường quốc tế không ổn định, khó dự đoán, môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, chính vì vậy doanh nghiệp bán lẻ trong nước muốn đứng vững và phát triển thì phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong điều kiện năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn yếu kém, nhiều doanh nghiệp còn lệ thuộc vào sự bao cấp của nhà nước, để có thể tồn tại và phát triển doanh nghiệp phải đổi mới, thay đổi chiến lược chính sách kinh doanh theo xu hướng và yêu cầu của kinh tế thị trường. Hiện nay, việc dựa vào lợi thế cạnh tranh truyền thống như tài nguyên thiên nhiên và chi phí nhân công rẻ đang dần dần giảm sút. Tri thức, công 9 z nghệ - kỹ thuật cao đang trở thành yếu tố quyết định đến sự thành công trong cạnh tranh.
Sự thay đổi này có ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của các doanh nghiệp trong hiện tại, mà phải chuẩn bị các điều kiện để chuyển sang nền kinh tế tri thức, chuẩn bị cạnh tranh trong tương lai khi doanh nghiệp còn đang ở trình độ yếu kém về năng lực cạnh tranh. Thị trƣờng bán lẻ Comment [U3]: lưu ý format Khái niệm Trong nền kinh tế hàng hoá để hàng hoá của doanh nghiệp phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng thì hàng hoá đó phải thông qua hai phương thức trong quá trình lưu thông đó là bán buôn và bán lẻ. Để mua hàng hoá người tiêu dùng cuối cùng sẽ phải thông qua thị trường bán lẻ để thoả mãn nhu cầu về loại hàng hoá đó, vậy thị trường bán lẻ là gì? Có thể hiểu thị trường bán lẻ là nơi diễn ra các hoạt động mua bán các sản phẩm hoàn chỉnh và dịch vụ tiêu thụ cuối cùng để thoả mãn nhu cầu cho người tiêu dùng cuối cùng để thoả mãn nhu cầu cá nhân, hộ gia đình. Hay nói một cách khác đó là hoạt động bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng vào mục đích cá nhân không phải là nhằm kinh doanh.
Các loại hình bán lẻ Trên thị trường bán lẻ có rất nhiều tiêu thức để phân loại các loại hình bán lẻ, trong đó tiêu thức thường được sử dụng nhất là tiêu thức phân loại theo cách thức tổ chức bán hàng và hàng hoá kinh doanh.