Chương 1: “Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh sản phẩm” Phương pháp thống kê, mô tả: Được tác giả sử dụng để phân tích, so sánh thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm tôn, thép Hoa Sen trên thị trường nội địa cần đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm dựa trên cơ sở lý thuyết đã trình bày. Các tiêu chí đánh giá được lựa chọn sao cho phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp. Tác giả thực hiện phân tích thống kê, so sánh với các doanh nghiệp cùng ngành, tổng hợp và làm rõ thực trạng năng lực sản phẩm tôn, thép Hoa 12 Sen. Phương pháp này sử dụng chủ yếu ở Chương 2: “Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm tôn, thép Hoa Sen trên thị trường nội địa” Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Được sử dụng thông qua việc phỏng vấn chuyên sâu đối với cán bộ nhân viên, lãnh đạo, người có chuyên môn trong ngành.
Đây là những người có kinh nghiệm nhiều năm trong việc kinh doanh sản phẩm tôn, thép. Các thông tin trong việc phân tích ý kiến người có chuyên môn sẽ giúp tác giả hoàn thiện bảng câu hỏi nghiên cứu đánh giá về năng lực cạnh tranh, đồng thời giúp tác giả đưa ra những giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh. Phương pháp này sử dụng chủ yếu ở Chương 3: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tôn, thép Hoa Sen trên thị trường nội địa”. Cụ thể như sau: - Bước 1: Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tôn, thép Hoa Sen.
Dựa trên cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh, thực trạng năng lực cạnh tranh đã trình bày, luận văn sử dụng công cụ phân tích tổng hợp để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh sản phẩm, các yếu tố này được xác định dựa trên cơ sở chuỗi giá trị từ sản xuất đến cung ứng sản phẩm của doanh nghiệp. - Bước 2: Từ các yếu tố ảnh hưởng nêu trên, luận văn sử dụng công cụ phân tích tổng hợp để chỉ ra được điểm mạnh, hạn chế và nguyên nhân. - Bước 3: Thực hiện phỏng vấn chuyên sâu người trong ngành, lãnh đạo có chuyên môn nhằm thu thập ý kiến về cơ hội và thách thức của ngành thép, từ đó nhận định được đau là giải pháp phù hợp, có tính khả thi. Việc thu thập ý kiến được xây dựng dựa bên bảng câu hỏi được chuẩn bị sẵn và nội dung câu hỏi được nghiên cứu, tổng hợp từ các tài liệu liên quan đến đề tài và xác định trọng tâm nội dung cần thu thập.
Dựa trên thực trạng phân tích và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh đã thu thập được, tác giả đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tôn, thép Hoa Sen trong điều kiện kinh tế hiện nay.2 Nguồn dữ liệu Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp: Dữ liệu sơ cấp: Trong luận văn, tác giả sử dụng 2 nguồn dữ liệu sơ cấp gồm: 13 Thứ nhất, phỏng vấn chuyên sâu ý kiến chuyên gia trong ngành, cán bộ nhân viên, Ban giám đốc về thuận lợi, khó khăn trong quá trình hoạt động kinh doanh tôn, thép. Thứ hai, số liệu thu thập từ câu trả lời của kênh phân phối, đại lý phân phối sản phẩm về các yếu tố cần cải thiện nhầm gia tăng sản lượng tiêu thụ trên thị trường. Dữ liệu thứ cấp: Thứ nhất, luận văn sử dụng các thông tin, ấn phẩm, thông cáo báo chí,…đã công bố của Tập đoàn Hoa Sen như: báo cáo tài chính, báo cáo thường niên, báo cáo tổng kết niên độ từ 2012-2020. Thứ hai, dữ liệu phân tích doanh nghiệp từ các nguồn dữ liệu điện tử như: Cafef.vn,… Thứ ba, thông tin nội bộ thu thập trực tiếp từ dữ liệu bán hàng, chính sách bán hàng của phòng Kinh doanh tôn, thép; Hệ thống phân phối; Kênh phân phối; Phòng nhân sự; Phòng kế toán từ năm 2012-2020.
Thứ tư, thông tin từ sách, giáo án chuyên khảo, bài báo phân tích liên quan đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh ngành thép, năng lực cạnh tranh sản phẩm. Ý nghĩa khoa học thực tiễn Dựa trên việc phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh của tôn, thép Hoa Sen trong giai đoạn 2012 – 2020, luận văn đưa ra được những đánh giá cụ thể về những điểm mạnh đồng thời chỉ ra những điểm yếu, những tồn tại làm hạn chế năng lực cạnh tranh của tôn, thép Hoa Sen. Trên nền tảng đặc điểm ngành thép, các yếu tố ảnh hưởng và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của tôn, thép Hoa Sen, luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho tôn, thép Hoa Sen trên thị trường trong nước và trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay. Bố cục luận văn Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương: 14 Chương 1: “Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh sản phẩm”.
Nội dung chương này nhằm đưa ra các cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh sản phẩm và lựa chọn hướng tiếp cận năng lực cạnh tranh. Chương 2: “Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm tôn, thép Hoa Sen trên thị trường nội địa”. Dựa trên các cơ sở lý thuyết, tác giả thống kê, phân tích tổng hợp để giải thích các yếu tố ảnh hưởng đến sản phẩm tôn, thép và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của tôn, thép Hoa Sen trên thị trường trong nước và điều kiện kinh tế hiện nay. Chương 3: “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm tôn, thép Hoa Sen trên thị trường nội địa”.
Từ kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả được ra kết luận và gợi ý giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tôn, thép Hoa Sen trên thị trường trong nước. 15 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM 1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Cạnh tranh là hiện tượng tự nhiên, là mâu thuẫn quan hệ giữa các cá thể có chung một môi trường sống khi cùng quan tâm tới một đối tượng nào đó. Trong hoạt động kinh tế, khái niệm cạnh tranh xuất hiện từ rất lâu, từ khi nền kinh tế hàng hóa xuất hiện thì đã có cạnh tranh. Theo hai nhà kinh tế học Mỹ P.
Nordhaus, “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau để lấy khách hàng hoặc thị trường”. Samuel 2000) Theo tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm, “Cạnh tranh trong thương trường không phải là diệt trừ đối thủ của mình, mà chính là phải mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh”. Theo Karl Marx “Cạnh tranh chủ nghĩa tư bản là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Hiểu theo cấp độ ngành, cạnh tranh là việc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của ngành.
Tuy nhiên, bản chất cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà là nguồn động lực buộc ngành, doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh (Michael Porter 1985, 1998) Tóm lại từ các định nghĩa về cạnh tranh trên đây đều là phạm trù chỉ quan hệ kinh tế theo đó các chủ thể, cá thể huy động hết tất cả các nguồn lực của mình, trên cơ sở sử dụng nhiều phương thức khác nhau để giành các ưu thế trên thị trường, chính sách để đạt mục đích kỳ vọng và mục tiêu kinh tế (Nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng, quy mô, nguồn vốn, thị phần, khách hàng, lợi nhuận) 16 Khái niệm năng lực cạnh tranh: Theo Michael Porter, “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của Công ty đó”. Theo Fafchamp, “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường, nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì có khả năng cạnh tranh cao”. Theo báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu của diễn đàn kinh tế thế giới WEF, “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó trong một thời gian dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thu được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra”. Từ các nhận định về năng lực cạnh tranh, tác giả có thể khái quát như sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là những lợi thế vượt trội của doanh nghiệp có thể tạo nên sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, có thể khác biệt về giá hay sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trường, thị phần, gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp và giữ vững vị trí chiếm lĩnh đó trong một thời gian dài”.
Theo đó, năng lực cạnh tranh chính là những ưu thế của doanh nghiệp so với đối thủ, mà nhờ những ưu thế này doanh nghiệp có thể tạo ra sản phẩm, dịch vụ với chi phí tốt hơn, cung cấp dịch vụ hoàn hảo hơn và sản phẩm độc đáo hơn mà các đối thủ khác không theo kịp nhằm kéo khách hàng về mình.2 Các cấp độ của năng lực cạnh tranh 1.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Có rất nhiều cách hiểu về năng lực cạnh tranh quốc gia. 17 Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thì năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”.