chương 1, e-adoption được định nghĩa là những bước hoặc cấp bậc tăng dần và có thể được phát hoạ dưới dạng một “e- adoption ladder“ (hay bậc thang các giai đoạn trong kinh doanh điện tử), với mỗi bước tăng dần về mức độ tinh vi và phức tạp cũng như là sự thay đồi về cơ cấu tổ chức như trong hình mô phỏng bên dưới.2: Mô hình E-adoption Ladder Model Trong hai giai đoạn đầu tiên, người dùng được yêu cẩu chỉ cần biết đến các kỹ năng về công nghệ thông tin và truyền thông cơ bản nhất trong việc sử dụng email cho liên lạc trong và ngoài doanh nghiệp một cách hiệu quả và sử dụng website quảng cáo đơn giản cho hoạt động marketing trực tuyến của doanh nghiệp. Ở giai đoạn e-commerce, việc tương tác trực tuyến giữa doanh nghiệp và khách hàng bắt đầu xuất hiện, bao gồm các hoạt động như đặt hàng và thanh toán trực tuyến. Ở bước này, mục tiêu chính của doanh nghiệp, ngoài những hoạt động tương tác với khách hàng hoặc nhà cung cấp của mình, là mục tiêu giảm chi phí và tăng cường sự hiện diện của doanh nghiệp trên thị trường và tốc độ tiếp cận các khách hàng mà doanh nghiệp đang hoặc sắp hướng đến. Giai đoạn e-business là thời điểm mà sự hợp nhất và liền lạc trong quản trị chuỗi 8 cung ứng và quản trị quan hệ khách hàng là yêu cầu bắt buộc.
Mục tiêu của doanh nghiệp trong giai đoạn này chính là tối thiểu hoá các hư hại, thiếu sót, và sự tổn hao trong toàn bộ chuỗi cung ứng của mình và khả năng theo dõi thói quen mua hàng và dịch vụ của khách hàng. Giai đoạn cuối cùng cho phép khách hàng, nhà cung cấp, và doanh nghiệp truy cập thông tin mở tuỳ thuộc vào mức độ triển khai của các hoạt động kinh doanh tương ứng, từ đó tạo tiền đề cho sự xuất hiện của các mô hình kinh doanh mới. Một điều cần lưu ý ở cả ba giai đoạn cuối của mô hình đó là chúng yêu công nghệ tiên tiến và nhiều kỹ năng kinh doanh chuyên môn cũng như là sự góp mặt của các chuyên gia trong lĩnh vực có liên quan như quản trị, chiến lược, và marketing. Thực tế cho thấy rằng, cả năm giai đoạn trong mô hình nãy không nhất thiết phải được tiến hành theo thứ tự đi lên của bậc thang, và các doanh nghiệp hoàn toàn có thể nhảy giai đoạn hoặc thực hiện song song.
Một nghiên cứu các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Anh Quốc năm 2006 đã xem xét thực trạng hiện tại của các mức độ áp dụng mô hình này trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời nghiên cứu này chỉ ra được những yếu tố có khả năng đưa các doanh nghiệp này tiến lên hoặc trì hoãn bước tiến của họ. Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng tại thời điểm khảo sát, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có áp dụng kinh doanh điện tử đểu ở các giai đoạn đầu tiên trong mô hình (70% doanh nghiệp sử dụng website cho hoạt động marketing và trao đổi thông tin). Chức năng buôn bán sản phẩm và dịch vụ ở mức khá thấp. Tuy nhiên, song song với điều này, các doanh nghiệp lại nhận thưc được rõ các mức độ cao hơn trong mô hình, nhưng các nhà quản trị lại cho rằng không nhất thiết phải tiến lên mức độ cao hơn cũng như là thực hiện việc thay đổi thích nghi với mức độ tinh vi hơn ở các giai đoạn cao hơn.
Lý do cho việc này được làm rõ trong nghiên cứu, đó là do thiếu sự thúc đẩy trong việc thực thi áp dụng trong nội bộ ngành. Nghiên cứu cũng đưa ra một ví dụ cho tiến hành song song giai đoạn: các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp linh kiện điện tử có thể tiến hành các thay đổi trong hoạt động kinh doanh của mình dựa trên cơ sở hạ tầng của chuỗi cung 9 ứng trong mạng nội bộ (giai đoạn e-business) đồng thời với việc kinh doanh buôn bán trên website (giai đoạn e-commerce).3 Các yếu tố tác động đến việc áp dụng mô hình Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng mô hình là một vấn đề rất được quan tâm bởi các doanh nghiệp cũng như là các chuyên gia nghiên cứu. Stokes (2000) đã liệt kê được các nhân tô như thiếu tính hấp dẫn và các nhân tố liên quan đến nguồn lực đã ngăn cản sự cải thiện năng lực cạnh tranh. Smyth và cộng sự (2001) đã chỉ ra các rào cản ví dụ như thiếu kỹ năng, thiếu sự đầu tư trong công tác đào tạo nhân viên, và ít kiến thức trong hoạt động khởi nghiệp qua Internet.
Fillis và cộng sự (2004) đã phát triển được một mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến doanh nghiệp nhỏ, gồm ba nhóm các nhân tố ảnh hưởng: nhân tố vĩ mô (sự toàn cầu hoá, sự cạnh tranh, chính sách chính phủ, .), các yếu tố ngành, và các yếu tố nội bộ ở quy mô vi mô. Mô hình nãy cũng nhất mạnh các yếu tố vĩ mô là nhân tố tác động chính đến sự thay đổi về công nghệ và các yếu tố ngành sẽ tác động đến nhu cầu kinh doanh điện tử các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở quy mô doanh nghiệp, các yêu tố về nguồn lực, năng lực cạnh tranh, và định hướng của nhà quản trị là các nhân tố chính ảnh hưởng đến việc liệu có áp dụng mô hình hay không.1 Yếu tố nguồn lực Sự thiếu hụt về nguồn lực tài chính, thời gian, khả năng quản trị, và nhân lực thường được đề cập là các nhân tố tác động lên quyết định áp dụng mô hình E-Adoption Ladder. Điều này có thể dễ hiểu do doanh nghiệp việc thử nghiệm mô hình công nghệ nãy là không cần thiết hoặc có thể dẫn đến những sai lầm gây thiệt hại về mặt tài chính.
Vì thế, tâm lý chờ đợi thường xuất hiện do lối tư duy suy nghĩ rằng các doanh nghiệp đi sau thường sẽ học hỏi được và giảm thiểu được các rủi ro. Lawrence (2002) 10 khẳng định rằng sự thiếu hụt về thời gian, vốn, và thói quen trong việc vận hành kinh doanh truyền thống đã ngăn cản doanh nghiệp gặt hái lợi nhuận từ việc ứng dụng công nghệ thương mại điện tử. Tuy nhiên, theo Merhtens, Cragg, và Mills (2001), vấn đề về tài chính không ảnh hưởng đến quyết định thực thi mô hình.2 Năng lực cạnh tranh Theo Fillis và cộng sự (2004), một số yếu tố trong năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp được xem là rào cản chính, bao gồm: sự phát triển đầy đủ các kỹ năng phù hợp, sự đầu tư vào hoạt động huấn luyện nhân viên, và việc thiếu kiến thức trong hoạt động khởi nghiệp qua Internet. Duan (2004) cũng khẳng định rằng thương mại điện tử cho các doanh nghiệp những cơ hội tuyệt vời để cải thiện năng suất hoạt động của mình bằng một cách thức tân tiến và mới mẻ, nhưng để hiện thực hoá các lợi ích tiềm năng mà mỗi doanh nghiệp có thể đạt được, họ cần các nhà quản trị có năng lực cũng như là nguồn nhân sự có chuyên môn và kỹ năng trong việc thích ứng với các công nghệ mới cũng như là với việc thực thi áp dụng những công nghệ này vào hoạt động kinh doanh một cách phù hợp nhất.
Các nghiên cứu khác của Drew (2003), Matlay và Addis (2003) cũng chỉ ra các bằng chứng về rào cản kiến thức và kỹ năng sẽ dần làm giảm năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.3 Yếu tố quản trị, tổ chức Định hướng e dè, lo ngại, và hạn chế rủi ro của các nhà quản trị cũng như chủ doanh nghiệp là một trong những cách phản ứng của họ đối với quá trình ứng dụng mô hình kinh doan mới. Đồng thời, quyết định ứng dụng hay không còn chịu tác động của nhà cung cấp và khách hàng, 11 người mà từ chối việc hợp nhất thông qua công nghệ thông tin và truyền thông tân tiến. Xu hướng này được Cyert và March (1992) khẳng định rõ: các nhà quản trị thường ưa thích hoạt động kinh doanh được vận hành theo cách từ trước đến nay hơn là dấn thân vào một xu hướng kinh doanh mới. Điều này cũng dễ hiểu do lối suy nghĩ đóng và tâm lý e dè trước những rủi ro của người tiên phong.
Tóm lại, mô hình bậc thang các giai đoạn phát triển và ứng dụng thương mại điện tử vào kinh doanh có chức năng chính là để hỗ trợ và cải thiện năng suất hoạt động cũng như là cải thiện năng lực cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp. Tuy rằng hiện nay có sự hiện diện song song của một số mô hình khác nhau với mức độ tinh vi, phức tạp và phân tầng khác nhau, nhưng phần lớn các mô hình (bao gồm mô hình E-adoption Ladder) đều chọn nền tảng từ “Khung đo lường các tiêu chuẩn ứng dụng E- commerce‘‘ của DTI năm 2001, điều mà sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của bài luận này.2 KHÁI QUÁT VỀ BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHUNG ĐO LƯỜNG CÁC TIÊU CHUẨN ỨNG DỤNG E-COMMERCE 1.1 Nền tảng xây dựng khung đo lường Nghiên cứu được thực hiện bởi Văn phòng Thống kê Quốc gia Anh Quốc (ONS), Sở Thương mại và Công nghiệp Anh Quốc (DTI) và Office of e-Envoy (OeE) của Anh dựa trên những số liệu được công bố chính thức, sau đó được gom lại và sàn lọc những yếu tố có tầm quan trọng với các nhà đầu tư và quản trị viên trong quá trình thực hiện các bước áp dụng thương mại điện tử. Những số liệu này được rút trích qua các khảo sát, bài viết, nghiên cứu và thống kê ở tổng cộng 9 quốc gia, bao gồm: Anh, Úc, Nhật Bản, Canada, Pháp, Đức, Ý, Thuỵ Điển, và Mỹ từ năm 2001 trở về trước. Tuy nhiên, một số quốc gia không thực hiện các khảo sát cùng chủ đề nên trong nghiên cứu luôn hiện hữu các thông tin số liệu khiếm khuyết, khiến cho tính thiết thực của nghiên cứu không 12 hoàn toàn được phản ánh trên kết quả thu được.
Ngoài ra, sự chênh lệch về thời gian của số liệu cũng là một yếu tố gây ảnh hưởng đến kết quả của nghiên cứu này. Về tổng thể, nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống khung đánh giá tiêu chuẩn cho 18 chuyên gia là thành viên của Information Age PartnerShip’s (IPA), là một tổ chức hợp tác giữa chính phủ Anh và khối tư nhân đứng đầu là Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Anh Quốc. Các chuyên gia này, thuộc nhiều lĩnh vực, ngành công nghiệp khác nhau nhưng chủ yếu là các nhà cung cấp lĩnh vực công nghệ thông tin và những người sử dụng thương mại điện tử, thực hiện việc cho điểm các yếu tố trong hệ thống khung đánh giá được đưa ra theo mức quan trọng.