phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh của sản phẩm phần mềm kế toán ứng dụng Chƣơng II: Thực trạng năng lực cạnh tranh phần mềm kế toán Chƣơng III: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh phần mềm kế toán ACsoft của Viện tin học doanh nghiệp Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14 z Luận văn thạc sỹ 10 CHƢƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM PHẦN MỀM KẾ TOÁN ỨNG DỤNG 1. Một số khái niệm cơ bản * Cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này đƣợc sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia.Marx cho rằng cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch.Marx đã trọng tâm nghiên cứu về cạnh tranh giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng.
Những cuộc ganh đua giữa các nhà tƣ bản diễn ra dƣới ba góc độ: Cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tƣ bản nhằm thu đƣợc giá trị thặng dƣ siêu ngạch; cạnh tranh chất lƣợng thông qua nâng cao giá trị sử dụng hàng hóa; cạnh tranh giữa các ngành thông qua việc gia tăng tính lƣu động của tƣ bản nhằm phân chia giá trị thặng dƣ. Ba góc độ cạnh tranh cơ bản này diễn ra xoay quanh việc quyết định giá trị, thực hiện giá trị và phân phối giá trị thặng dƣ. Nhƣ vậy cạnh tranh kinh tế là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, là sự đối chọi giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa dựa trên những thực lực kinh tế của họ. - Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất.
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14 z Luận văn thạc sỹ 11 - Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh): Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình. Ngày nay, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và coi cạnh tranh là một trong những đặc trƣng cơ bản và là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Đất nƣớc ta trong quá trình đổi mới nền kinh tế đã có sự thay đổi về tƣ duy, quan niệm và cách thức đối xử với cạnh tranh. Trong văn kiện Đại hội Đảng VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và văn minh.
Cạnh tranh vì lợi ích phát triển đất nước chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí các nguồn lực, thôn tính lẫn nhau”. Từ những định nghĩa trên có thể rút ra đƣợc các điểm chung sau đây: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thƣờng là chiếm lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng cũng nhƣ các điều kiện sản xuất, thị trƣờng có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với ngƣời sản xuất - kinh doanh là lợi nhuận, đối với ngƣời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi. Cạnh tranh là cố gắng giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong môi trƣờng cạnh tranh.
Cạnh tranh là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trƣờng, hiện nay cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản và cạnh tranh lấy quy luật giá trị làm tiền đề. Tác động của quy luật giá trị trong việc kích thích sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, đào thải các yếu tố lạc hậu dựa trên cơ sở công bằng đó là sự trao đổi ngang giá. Để thắng đƣợc Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14 z Luận văn thạc sỹ 12 trong cạnh tranh, chiếm lĩnh đƣợc thị phần, các doanh nghiệp, các ngành sản xuất sản phẩm phải nâng cao đƣợc năng lực cạnh tranh của mình.
* Năng lực cạnh tranh Trong môi trƣờng cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó, dựa trên những ƣu thế nhất định về các điều kiện sản xuất, tiêu thụ hàng hoá và các yếu tố quản lý. Sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh tranh của các chủ thể kinh tế, vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh. Theo từ điển thuật ngữ chính sách thƣơng mại: Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nƣớc khác đánh bại về năng lực kinh tế.
Năng lực cạnh tranh quốc gia đƣợc định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt đƣợc tăng trƣởng bền vững, thu hút đƣợc đầu tƣ, bảo đảm ổn định kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống của ngƣời dân. [20, 13] Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trƣờng cạnh tranh trong nƣớc và ngoài nƣớc. [20, 14] Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ đƣợc đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trƣờng. [20, 14] Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là cái hiện hữu trong sản phẩm, việc phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm thƣờng đƣợc tiến hành đồng thời bằng 3 phƣơng pháp: - Đánh giá trực tiếp trên sản phẩm (tính năng, giá cả, sự tiện ích, mẫu mã v.v…) Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14 z Luận văn thạc sỹ 13 - Đánh giá trực tiếp thị trƣờng (doanh số bán, thị phần, tốc độ tăng thị phần, hệ thống phân phối v.v…) - Điều tra xã hội học, chủ yếu qua phiếu thăm dò khách hàng (sự thoả mãn nhu cầu, sự nhận biết tên sản phẩm, sự trung thành với nhãn hiệu v.
Sau đó so sánh các tiêu chí đó với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng thị trƣờng, tại cùng thời điểm để xác định năng lực cạnh tranh của sản phẩm. * Nâng cao năng lực cạnh tranh Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là tìm ra những biện pháp tác động vào quá trình sản xuất và lƣu thông sản phẩm, làm cho nó có “tính vƣợt trội” so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh hoặc làm tăng thêm sức mạnh cho sản phẩm, làm cho “tính trội” của nó ở mức tốt hơn, cao hơn trên thị trƣờng tiêu thụ. Nói cách khác: nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm là sử dụng một số yếu tố tác động nhằm khắc phục những tồn tại đƣợc coi là trở ngại làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm, đồng thời hoàn thiện những nhân tố làm tăng tính trội của nó so với đối thủ khác, nhằm làm cho thị phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh. * Các lý thuyết cạnh tranh - Lý thuyết cạnh tranh của trường phái cổ điển: Lý luận về cạnh tranh do nhà kinh tế học ngƣời Anh Adam Smith (1723- 1790) khởi xƣớng và dựa trên quan điểm tự do cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng nhƣ sự tự do lựa chọn tiêu dùng của hộ gia đình, không cần có sự can thiệp của Nhà nƣớc.
Điểm xuất phát trong lý luận của ông là nhân tố “con người kinh tế ”, trong đó loài ngƣời là một liên minh trao đổi. Trong quá trình trao đổi sản phẩm và lao động cho nhau, con ngƣời luôn chỉ biết tƣ lợi và chỉ làm theo tƣ lợi. Song nhờ sự sắp đặt của “bàn tay vô hình” mà “con người kinh tế ” trong khi theo đuổi lợi ích riêng đồng thời thực hiện nhiệm vụ không Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14 z Luận văn thạc sỹ 14 nằm trong dự kiến là đáp ứng lợi ích xã hội nên lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội thống nhất với nhau. Một loạt các học thuyết kinh tế ra đời sau đó đã kế thừa và phát triển học thuyết của Adam Smith lên một bƣớc phát triển mới.
Trong tác phẩm “Những nguyên lý chính trị kinh tế học”, John Stuart Mill đã bổ sung lý luận cạnh tranh của Adam Smith khi cho rằng chỉ khi con đƣờng dẫn tới thành công của cá nhân thì mâu thuẫn với lợi ích xã hội, tức là thành công do sử dụng thủ đoạn lừa đảo, ức hiếp thì Chính phủ mới cần can thiệp để bảo vệ chính nghĩa xã hội. Ông cho rằng, có ba trƣờng hợp không cần sự can thiệp của Chính phủ, đó là: can thiệp vào các việc mà lẽ ra để cá nhân làm thì tốt hơn; những việc tuy để cá nhân làm chƣa hẳn đã tốt nhƣng sẽ khuyến khích tính chủ động và tăng năng lực cá nhân của họ và những việc không cần thiết để gia tăng quyền lực có thể gây ra tai họa. David Ricardo (1772-1823) cũng đề cao tự do cá nhân, coi đó là tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội. Ông cho rằng, quá trình phát triển kinh tế bao giờ cũng bị sự chi phối của các quy luật khách quan và phản đối sự can thiệp của Chính phủ vào các hoạt động kinh tế.Walras (1834- 1910), là những ngƣời sáng lập trƣờng phái tân cổ điển cũng đều ủng hộ chủ nghĩa tự do.
Nhƣng họ lấy thị trƣờng tự do với giả định cạnh tranh hoàn hảo, không có độc quyền. Lúc này của cải trong xã hội đƣợc phân phối rộng khắp và sử dụng với hiệu quả cao nhất, do vậy không cần có sự can thiệp của Nhà nƣớc. Lý luận của họ đã có tác dụng thúc đẩy sự phân phối có hiệu quả và sử dụng tối ƣu tài nguyên kinh tế.