Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của ngành trong nền kinh tế. Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của ngành thép Việt Nam. Chương 3: Những định hƣớng mới và các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nghành thép Việt Nam 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH TRONG NỀN KINH TẾ 1. Lý luận chung về cạnh tranh 1.
Khái niệm về cạnh tranh và khả năng cạnh tranh Có thể nói cạnh tranh chỉ xuất hiện trong nền kinh tế thị trường. Ngày nay có lẽ không ai còn nghi ngờ về sự phát triển tất yếu của nền kinh tế thị trường ở nước ta vì vậy cạnh tranh đã được nhìn nhận như là một động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. Cạnh tranh cũng chỉ diễn ra khi được pháp luật thừa nhận và bảo hộ tính đa dạng của các loại hình sở hữu, khi có tự do hoá thương mại và theo đó là tự do kinh doanh và quyền tự chủ của các cá nhân được thừa nhận và bảo đảm. Cạnh tranh chỉ xuất hiện khi không có độc quyền dưới bất kỳ hình thức nào.
Tất cả những tiền đề đó đã hình thành ở nước ta từ khi chuyển sang cơ chế thị trường và từ khi đảng và Nhà nước ta chủ trương thúc đẩy kinh tế phát triển. Cạnh tranh, nói chung là sự phấn đấu vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng đầu nào đó bằng cách ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra nhiều lợi thế nhất, tạo ra sản phẩm mới, tạo ra năng suất và hiệu quả cao nhất. Trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng có cạnh tranh. Không có cạnh tranh sẽ không có phát triển.
Đó là quy luật tồn tại của muôn loài. Trong kinh tế cạnh tranh là đấu tranh để giành lấy thị trường tiêu thụ sản phẩm (hàng hoá và dịch vụ) bằng các phương pháp và biện pháp khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội. Biện pháp kỹ thuật là áp dụng công nghệ hiện đại, máy móc thiết bị tiên tiến, công nhân có trình độ lành nghề cao; biện pháp kinh tế như trợ cấp tài chính, bảo hộ, cho 10 vay ưu đãi, bán phá giá …; biện pháp chính trị – kinh tế là dùng áp lực chính trị để buộc đối phương phải nhượng bộ hoặc một điều kiện thương mại nào đó có lợi cho mình; biện pháp quân sự như gây chiến tranh cục bộ hoặc chiến tranh thế giới để gây ảnh hưởng và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong cạnh tranh nảy sinh ra kẻ có khả năng cạnh tranh mạnh, người có khả năng cạnh tranh hoặc sản phẩm có khả năng cạnh tranh mạnh, sản phẩm có khả năng cạnh tranh yếu.
Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khă năng sản phẩm đó tiêu thụ được nhanh trong khi có nhiều người cùng bán loại sản phẩm đó trên cùng thị trường. Hay nói cách khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm phụ thuộc vào chất lượng của nó, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín của người bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán, … Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành là khả năng doanh nghiệp đó, ngành đó tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, của ngành người ta dựa nhiều vào tiêu chí: thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỉ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp đối với xã hội, tài sản của doanh nghiệp nhất là tài sản vô hình, tỉ lệ công nhân lành nghề, tỉ lệ đội ngũ quản lý giỏi, nghiên cứu và sáng tạo, … Những yếu tố đó tạo cho doanh nghiệp, ngành có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho doanh nghiệp khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt hoá trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp hoặc cả hai. 11 Lý thuyết cạnh tranh suất hiện từ nửa sau thế kỷ XVIII, xuất phát từ “tự do kinh tế” mà Adam Smith đã phát hiện. Nhờ cạnh tranh mà xã hội loài người ngày càng phát triển về mọi mặt. Cạnh tranh kích thích lòng tự hào, ý chí vươn lên, ham muốn làm giàu, ham muốn khám phá cái mới, nhờ đó mà thúc đẩy khoa học – kỹ thuật phát triển, làm cho mọi ngành kinh tế, mọi doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn phát triển ra phạm vi toàn cầu (mà người ta gọi là các công ty đa quốc gia).
Nhiều doanh nghiệp (nói riêng) và nhiều tổ chức (nói chung) của một quốc gia có năng lực cạnh tranh thì quốc gia đó sẽ có năng lực cạnh tranh. Hiện nay chưa có một định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được mọi người công nhận.Porter – người từng làm việc trong hội đồng cố vấn bên cạnh tổng thống Mỹ: Không có một định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến. Đối với các lãnh đạo doanh nghiệp năng lực cạnh tranh có nghĩa là sức cạnh tranh trên thị trường thế giới nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu mà có được. Đối với nhiều nghị sĩ quốc hội sức cạnh tranh là xuất siêu trong ngoại thương.
Đối với một số nhà kinh tế học, sức cạnh tranh là giá thành thấp của đơn vị sức lao động dựa vào điều chỉnh hối suất. Cuộc tranh luận về sức cạnh tranh cho tới những năm 90 của thế kỷ XX vẫn diễn ra sôi nổi và có phần gay gắt. Trên cơ sở đó, OECD đưa ra định nghĩa sau: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Hội đồng cạnh tranh của Mỹ đề nghị định nghĩa: Sức cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hoá và dịch vụ của một nền sản xuất có thể vượt qua thử thách trên thị trường thế giới trong khi mức sống của dân chúng có thể được nâng cao một cách vững chắc, lâu dài.
12 Trong từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Nhiều học giả cho rằng mục tiêu chủ yếu của các quốc gia là tạo mức sống ngày càng cao cho nhân dân, còn làm được việc này thì không phải do năng lực cạnh tranh quyết định mà do năng suất sử dụng tài nguyên hoặc lực lượng sản xuất của quốc gia ấy quyết định. Mặc dù có sự khác nhau giữa các định nghĩa trên song hàm nghĩa cơ bản là như nhau, tức năng lực cạnh tranh quốc gia là năng suất của mỗi nước được phản ánh thông qua sản phẩm của họ được tiêu thụ trên thị trường thế giới.1 Quan niệm về cạnh tranh trước nửa đầu thế kỷ XX Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, chủ nghĩa tự do kinh tế phát triển ở Anh với lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo. Lý thuyết này chủ yếu đưa ra nguyên tắc thuế hợp lý và làm rõ chức năng kinh tế của nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường tự do, chỉ rõ cơ chế vận hành của thị trường tự do và hiệu quả của cơ chế đó là làm cho dân giàu nước mạnh.
Các học thuyết trong giai đoạn này đề cao tự do cạnh tranh, đề cao lợi ích cá nhân. Smith cho rằng phát triển tự do trao đổi hàng hoá sẽ tăng cường sự phân công lao động mà mức độ phân công thì do thị trường quyết định. Cạnh tranh sẽ làm cân bằng cung – cầu, làm cho sự phân phối tài nguyên được hợp lý, làm cho sản phẩm ngày càng tốt và giá rẻ. Lý thuyết này khẳng định rằng muốn cạnh tranh phát triển, Nhà nước phải đề ra các chính sách thích hợp để khuyến khích kinh doanh phát triển ở cả thị trường trong và ngoài nước, nhưng Nhà nước không nên can thiệp sâu vào cạnh tranh, chỉ nên tạo điều kiện cho cạnh tranh phát triển.
Tư tưởng lợi thế cạnh tranh là đóng góp quan trọng của David Ricardo. Mỗi quốc gia, mỗi ngành có những lợi thế về tài nguyên khác nhau. Mói ngành, mỗi nước tuỳ vào khả năng của mình mà sản xuất và bán những sản 13 phẩm mà mình có lợi thế hơn và mua cái mà mình không sản xuất được hoặc sản xuất với giá đắt hơn. Nội dung của lý thuyết lợi thế so sánh là các nước lựa chọn mặt hàng để chuyên môn hoá sản xuất theo công thức: chi phí sản xuất mặt hàng A của nước đó so với thế giới nhỏ hơn chi phí sản xuất mặt hàng B của nước đó so với thế giới.
Thông qua ngoại thương các nước bù đắp cho nhau, làm cho năng suất lao động ở mỗi nước tăng lên, chi phí giảm xuống. Đó cũng là yếu tố cơ bản làm tăng cạnh tranh.Ricardo cũng nêu lý thuyết về thuế khoá. Thuế cần thiết cho chi tiêu của chính phủ và xây dựng đất nước. Thuế cũng có thể thúc đẩy sản xuất, phát triển xuất nhập khẩu, nhưng cũng có thể có tác dụng ngược lại.
Chính vì vậy cần phải có chính sách thuế hợp lý, khoa học. Hai ông cũng phân biệt rõ giá trị và giá trị sử dụng chứa đựng trong sản phẩm và đó cũng là yếu tố quan trọng quyết định tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Đến Karl Marx, lý luận cạnh tranh của ông phát triển ở tầm cao hơn, gồm cạnh tranh về giá trị thặng dư, cạnh tranh chất lượng và cạnh tranh giữa các ngành. Ba mặt đó diễn ra xoay quanh giá trị.
Karl Marx đã chỉ ra tính hai mặt của lao động là lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị cũ (c) vào trong giá trị mới, lao động trừu tượng tạo ra giá trị mới (v+m). Từ đó Marx chỉ ra cơ cấu chuyển hoá giá trị thặng dư thành lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hoấthnhf giá cả sản xuất trong điều kiện tự do cạnh tranh.