Tổng quan nghiên cứu

Ninh Thuận sở hữu tiềm năng tự nhiên vượt trội trong phát triển kinh tế biển với chiều dài bờ biển 105 km, độ mặn nước biển tự nhiên đạt từ 32‰ đến 35‰, số giờ nắng bình quân lên đến 2.700 giờ mỗi năm và lượng mưa trung bình chỉ khoảng 960 mm/năm. Những điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa khô hạn đặc trưng đã biến địa phương này thành trung tâm sản xuất muối công nghiệp quy mô lớn nhất cả nước, chiếm hơn 55% diện tích và trên 55% sản lượng muối công nghiệp toàn quốc vào năm 2013. Tuy nhiên, ngành muối Việt Nam nói chung và tỉnh Ninh Thuận nói riêng đang đối mặt với một nghịch lý kinh tế sâu sắc: cả nước vẫn phải nhập khẩu khoảng 400.000 tấn muối mỗi năm cho ngành công nghiệp hóa chất, trong khi sản lượng muối thô nội địa lại rơi vào tình trạng ứ đọng với lượng tồn kho toàn quốc từng vượt mức 58.000 tấn.

Tại Ninh Thuận, diện tích sản xuất muối năm 2013 đạt 2.375 ha, đóng góp 274.884 tấn sản lượng, tương đương 26,4% tổng sản lượng muối cả nước. Mặc dù ngành muối đem lại giá trị sản xuất và chế biến đạt 541,3 tỷ đồng trong năm 2014 (chiếm 12,4% tổng giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh) và nộp ngân sách nhà nước từ 15 đến 17 tỷ đồng hàng năm, song đời sống của gần 700 hộ diêm dân vẫn bấp bênh do giá cả biến động liên tục và 90% sản lượng muối thủ công phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái trung gian.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng, nhận diện các xung lực thúc đẩy cùng những rào cản cản trở sự phát triển của cụm ngành muối Ninh Thuận. Nghiên cứu giới hạn phạm vi khảo sát thực địa tại hai địa bàn trọng điểm là huyện Ninh Hải và huyện Thuận Nam trong giai đoạn 2005 - 2015. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn nhằm gia tăng giá trị chuỗi sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh để thay thế nguồn muối ngoại nhập và tạo sinh kế bền vững cho hơn 1.800 lao động địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết năng lực cạnh tranh cụm ngành cùng mô hình kim cương của Michael Porter làm nền tảng phân tích chủ đạo. Cụm ngành được định nghĩa là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp liên kết, nhà cung ứng chuyên ngành, các tổ chức nghiên cứu và thể chế hỗ trợ, vừa cạnh tranh vừa hợp tác nhằm gia tăng năng suất và đổi mới sáng tạo. Khung phân tích kim cương bao gồm 4 yếu tố nội tại tương tác đa chiều: điều kiện các yếu tố sản xuất đầu vào, điều kiện về cầu nội địa, bối cảnh chiến lược và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp, cùng sự hiện diện của các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan; chịu sự tác động điều tiết từ vai trò của Chính phủ.

Bên cạnh lý thuyết cụm ngành, tác giả tích hợp các khái niệm học thuật và quy chuẩn chuyên ngành bao gồm: muối công nghiệp (muối đạt hàm lượng Natri Clorua từ 95% đến 98% trở lên phục vụ công nghiệp hóa chất, sản xuất xút, xô-đa), muối thô, muối tinh chế và nước ót (dung dịch khoáng giàu Magie Clorua, Magie Sunfat thải ra sau quá trình kết tinh muối). Quy trình công nghệ phân đoạn kết tinh dài ngày từ 30 đến 60 ngày cũng được đưa vào khung đánh giá kỹ thuật để đối chiếu giữa phương pháp sản xuất muối công nghiệp hiện đại và phương pháp phơi nước phân tán truyền thống.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả nhằm đánh giá cấu trúc và năng lực cạnh tranh của cụm ngành. Nguồn dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo chuyên đề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Chế biến Nông lâm Thủy sản và Nghề muối, Cục Thống kê tỉnh Ninh Thuận, cùng Niên giám thống kê giai đoạn 2005 - 2015.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu trực tiếp. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm: 50 hộ diêm dân trong tổng số gần 700 hộ sản xuất muối tại huyện Ninh Hải và Thuận Nam (được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích nhằm đại diện cho các nhóm quy mô diện tích từ 0,7 ha đến 1 ha); toàn bộ 3 doanh nghiệp muối quy mô lớn trên địa bàn gồm Công ty Cổ phần Muối Ninh Thuận, Công ty TNHH Đầm Vua và Công ty TNHH Đầu tư Phát triển Sản xuất Hạ Long (chiếm 79,7% diện tích muối toàn tỉnh); cùng 3 nhà quản lý và chuyên gia kỹ thuật thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Phòng Nông nghiệp cấp huyện. Phương pháp phân tích định tính dựa trên mô hình kim cương được lựa chọn vì tính bao quát vượt trội, cho phép bóc tách những mối liên kết chằng chéo giữa các tác nhân kinh tế, rào cản thể chế và chính sách công mà các mô hình kinh tế lượng đơn thuần khó biểu đạt toàn diện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, điều kiện sản xuất bộc lộ sự tương phản rõ rệt giữa lợi thế tự nhiên và năng lực kỹ thuật. Ninh Thuận đạt năng suất lao động ấn tượng với 116,6 tấn/người/năm, vượt trội so với mức 4,3 tấn/người/năm của phương pháp phơi cát ở các tỉnh phía Bắc. Tuy nhiên, năng suất muối bình quân của tỉnh sụt giảm nghiêm trọng từ 193,7 tấn/ha năm 2005 xuống còn 115,7 tấn/ha năm 2013 (tương đương tốc độ giảm 6,2%/năm), do chịu ảnh hưởng nặng nề từ các đợt mưa trái mùa bất thường trong các tháng 4, 5 và 6. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề muối chỉ đạt khiêm tốn 12,3%, khiến sản xuất thủ công vẫn dựa chủ yếu vào kinh nghiệm tích lũy dân gian.

Thứ hai, điều kiện cầu nội địa và thị trường thể hiện sự mất cân đối lớn. Tổng nhu cầu muối tiêu dùng và công nghiệp trong nước được dự báo vượt 2,6 triệu tấn vào năm 2020 (riêng công nghiệp hóa chất cần 2,2 triệu tấn). Dù vậy, 70% sản lượng muối công nghiệp Ninh Thuận chỉ cung cấp cho một số doanh nghiệp chế biến thực phẩm có vốn đầu tư nước ngoài như Nestlé, Ajinomoto, Orsan; chưa thâm nhập sâu vào các tổ hợp sản xuất sút clo quy mô lớn do chất lượng chưa đồng đều. Ở khu vực muối diêm dân, 90% sản phẩm phải bán qua thương lái trung gian không có hợp đồng bao tiêu, dẫn đến hiện tượng bị ép giá khi được mùa.

Thứ ba, sự phát triển của các ngành công nghiệp hỗ trợ và khai thác sau muối gần như bị bỏ ngỏ. Mỗi năm các đồng muối tại địa phương xả thải hơn 280.000 m3 nước ót nồng độ trên 30 độ Bômê ra môi trường biển. Nguồn phụ phẩm giàu khoáng chất này chưa được chế biến thành vật liệu xây dựng chịu lực hay phân bón trung vi lượng (vốn có thể cung cấp tới 100.000 tấn nguyên liệu/năm), gây lãng phí kinh tế và tăng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm. Đồng thời, toàn tỉnh chỉ có 7 cơ sở chế biến muối với sản lượng 69.926 tấn/năm, mới chỉ đáp ứng 25,4% sản lượng muối thô toàn tỉnh và hoạt động ở mức 26% tổng công suất thiết kế.

Thứ tư, cấu trúc chiến lược và liên kết cụm ngành còn rất rời rạc. Ba doanh nghiệp lớn nắm giữ 1.892 ha đất muối hoạt động hoàn toàn độc lập, thiếu cơ chế chia sẻ hạ tầng logistics và nghiên cứu thị trường. Lợi nhuận sản xuất muối thô của diêm dân chỉ đạt khoảng 230.000 đồng/tấn (doanh thu 900.000 đồng, chi phí 670.000 đồng), trong khi muối công nghiệp đạt lợi nhuận 389.900 đồng/tấn, thấp hơn rất nhiều so với mức lợi nhuận 832.281 đồng/tấn từ mô hình sản xuất muối trải bạt tại tỉnh Bạc Liêu.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến muối Ninh Thuận suy giảm sức cạnh tranh trước muối mỏ nhập khẩu từ Ấn Độ và Trung Quốc (với giá nhập khẩu chỉ dao động khoảng 20 - 25 USD/tấn) bắt nguồn từ chi phí logistics nội địa cao, hệ thống kho bãi lưu trữ thô sơ và việc thiếu công nghệ tinh chế sâu. Biến động năng suất và sản lượng giai đoạn 2005 - 2013 phản ánh mức độ dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu khi các trận mưa lớn giữa vụ làm sụt giảm sản lượng tức thì từ 10% đến 30%. Khi so sánh với kinh nghiệm quản lý của Trung Quốc và Ấn Độ, nơi chính phủ quy hoạch đồng bộ hạ tầng cảng trung chuyển công suất trên 5.000 tấn và bảo hộ giá thu mua tạm trữ nghiêm ngặt, chính sách hỗ trợ tại Việt Nam như Nghị định 41/2010/NĐ-CP và Quyết định 153/QĐ-TTg bộc lộ nhiều bất cập trong khâu giải ngân tín dụng ưu đãi, khiến 11/50 hộ khảo sát không thể tiếp cận vốn vay do thiếu tài sản thế chấp.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa tối ưu thông qua hệ thống biểu đồ cột kép so sánh sản lượng - năng suất muối giữa Ninh Thuận với các tỉnh duyên hải giai đoạn 2005 - 2013, kết hợp biểu đồ đường thể hiện mối tương quan nghịch biến giữa lượng mưa từng tháng với năng suất kết tinh hạt muối. Việc trực quan hóa này giúp các nhà quản lý nhận diện chính xác các điểm nghẽn chuỗi giá trị và sự cần thiết phải hiện đại hóa công nghệ che phủ bạt.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách điều tiết thị trường và bình ổn giá thu mua muối tạm trữ. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương thiết lập cơ chế giám sát nghiêm ngặt hạn ngạch thuế quan nhập khẩu muối; xây dựng quỹ dự trữ lưu thông muối địa phương nhằm thu mua tạm trữ tối thiểu 30.000 tấn muối mỗi năm vào thời điểm thu hoạch rộ, bảo đảm mức giá sàn mang lại biên lợi nhuận tối thiểu 30% cho diêm dân, triển khai liên tục từ năm 2017 đến năm 2020.

Thứ hai, mở rộng gói tín dụng ưu đãi và tháo gỡ rào cản thế chấp tài sản. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn triển khai chương trình cho vay trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi hỗ trợ 100% lãi suất trong 2 năm đầu cho các hộ diêm dân chuyển đổi sang mô hình kết tinh trải bạt nhựa HDPE. Mục tiêu giải ngân vốn đạt quy mô đầu tư 100 ha diện tích trải bạt đến năm 2020, giảm áp lực thủ tục chứng minh quyền sử dụng đất nông nghiệp.

Thứ ba, chuẩn hóa quy hoạch hạ tầng đồng muối và thúc đẩy chế biến phụ phẩm sau muối. Sở Khoa học và Công nghệ cùng Sở Công Thương chủ trì kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy chiết xuất nước ót công suất 100.000 m3/năm để sản xuất xi măng magie và phân bón vi lượng trước năm 2022; đồng thời hoàn thiện hệ thống đê bao ngăn mặn và kênh tiêu thoát lũ tại cánh đồng muối Quán Thẻ, nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng nhiễm mặn gây thiệt hại sinh kế cho hơn 900 hộ dân lân cận.

Thứ tư, kiến tạo liên minh sản xuất và nâng cao chuỗi giá trị chế biến muối. Thành lập Hiệp hội Sản xuất và Chế biến Muối Ninh Thuận nhằm kết nối 3 doanh nghiệp hạt nhân với 700 hộ diêm dân thông qua hợp đồng liên kết bao tiêu sản phẩm chuẩn hóa; đầu tư nâng cấp công suất 7 cơ sở tinh chế hiện có đạt sản lượng trên 150.000 tấn/năm, đưa tỷ trọng muối chế biến chất lượng cao đạt trên 50% tổng sản lượng toàn tỉnh vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các cơ quan hoạch định chính sách công và quản lý nhà nước (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương). Tài liệu cung cấp cơ sở thực chứng giúp định hình chính sách phát triển kinh tế biển, quản lý hạn ngạch nhập khẩu và ban hành quy chuẩn bảo hộ ngành muối địa phương.

Thứ hai, lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất, chế biến và phân phối muối (Công ty Cổ phần Muối Ninh Thuận, Công ty TNHH Đầm Vua, Công ty Hạ Long). Nghiên cứu mang lại góc nhìn chiến lược về đổi mới công nghệ kết tinh phân đoạn, khai thác giá trị gia tăng từ phụ phẩm nước ót và đa dạng hóa thị trường khách hàng công nghiệp.

Thứ ba, các nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Quản trị chiến lược. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng mô hình kim cương của Michael Porter trong phân tích thực chứng cụm ngành nông - công nghiệp tại Việt Nam.

Thứ tư, các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và đơn vị tài trợ phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp bức tranh tài chính chi tiết về cơ cấu chi phí, doanh thu, lợi nhuận trên mỗi hecta sản xuất muối, làm căn cứ thiết kế các gói sản phẩm tín dụng và quản trị rủi ro cho vay theo chuỗi giá trị.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao Việt Nam có bờ biển dài nhưng hàng năm vẫn phải nhập khẩu khoảng 400.000 tấn muối?
Nguyên nhân chủ yếu do muối sản xuất thủ công trong nước có độ ẩm cao, nhiều tạp chất và hàm lượng Natri Clorua không đạt tiêu chuẩn từ 98% trở lên theo yêu cầu khắt khe của công nghiệp hóa chất sản xuất xút, xô-đa. Thêm vào đó, giá thành muối mỏ nhập khẩu từ Ấn Độ chỉ khoảng 20 - 25 USD/tấn, rẻ hơn chi phí thu mua và vận chuyển nội địa.

Mô hình kim cương của Michael Porter giải thích điểm yếu lớn nhất của cụm ngành muối Ninh Thuận là gì?
Điểm yếu lớn nhất nằm ở sự thiếu hụt các yếu tố sản xuất tiên tiến (lao động qua đào tạo nghề chỉ đạt 12,3%, công nghệ chế biến lạc hậu) và tính liên kết yếu kém giữa các tác nhân trong cụm ngành. Các doanh nghiệp và 700 hộ diêm dân hoạt động biệt lập, khiến chi phí sản xuất tăng cao và suy giảm năng lực đàm phán thương mại.

Phương pháp làm muối trải bạt mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội như thế nào so với muối truyền thống?
Dữ liệu đối chiếu từ Bạc Liêu cho thấy làm muối trải bạt đạt năng suất 61,12 tấn/ha và lợi nhuận trên 832.000 đồng/tấn, cao hơn gấp 3,6 lần so với mức lợi nhuận 230.000 đồng/tấn của phương pháp thủ công trên nền đất tại Ninh Thuận, đồng thời hạt muối thu được trắng sạch, đáp ứng tốt hơn tiêu chuẩn công nghiệp.

Nước ót trong quá trình làm muối có thể mang lại những giá trị kinh tế nào nếu được khai thác hợp lý?
Hơn 280.000 m3 nước ót xả thải mỗi năm tại Ninh Thuận chứa hàm lượng muối magie lên tới 23%. Dung dịch này có thể tinh chế thành vật liệu xi măng magie cách âm, cách nhiệt hoặc làm nguyên liệu sản xuất 100.000 tấn phân bón trung vi lượng phục vụ nông nghiệp, biến chất thải thành nguồn thu lớn.

Chính quyền địa phương cần làm gì để giải quyết tình trạng xung đột môi trường do nhiễm mặn từ đồng muối công nghiệp?
Chính quyền cần yêu cầu các dự án muối quy mô lớn như Quán Thẻ rà soát toàn diện báo cáo đánh giá tác động môi trường, đầu tư lớp lót đáy chống thấm đạt chuẩn kỹ thuật, xây dựng hệ thống hào thoát mặn ngầm và trích quỹ hỗ trợ ổn định sinh kế cho hơn 900 hộ dân bị ảnh hưởng đất canh tác và nguồn nước sinh hoạt.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cụm ngành và mô hình kim cương của Michael Porter, áp dụng thành công vào việc mổ xẻ thực trạng chuỗi giá trị ngành muối tại một tỉnh bán khô hạn đặc thù.
  • Đóng góp khoa học then chốt là chỉ ra các nút thắt nghẽn mạch cạnh tranh: năng suất muối suy giảm 6,2%/năm do thời tiết, 90% sản lượng muối diêm dân bị phụ thuộc thương lái, và tỷ lệ hao phí nguồn phụ phẩm nước ót trên 280.000 m3/năm.
  • Công trình cung cấp hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ, kết hợp hài hòa giữa công cụ kinh tế (quỹ thu mua tạm trữ, gói tín dụng ưu đãi trải bạt) và giải pháp kỹ thuật công nghệ (chiết xuất phụ phẩm, kiểm soát nhiễm mặn).
  • Lộ trình thực thi chính sách cần chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 2017 - 2020 tập trung bình ổn giá, hiện đại hóa 100 ha ô kết tinh; giai đoạn 2021 - 2025 hoàn thiện tổ hợp công nghiệp hóa chất sau muối và xây dựng liên minh doanh nghiệp xuất khẩu.
  • Các nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và tổ chức tài chính hãy chung tay hiện thực hóa các khuyến nghị của luận văn nhằm biến hạt muối Ninh Thuận thành ngành kinh tế mũi nhọn, bảo đảm sinh kế thịnh vượng cho diêm dân địa phương.