CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANE MÂY TRE ĐAN 1.1 Cơ sở lý thuyết về nâng cao năng lực cạnh tranh ngành mây tre đan 1.1 Một số vấn đề cơ bản về năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Trong kinh tế, thuật ngữ “cạnh zranh” bắt nguồn từ hiện tượng cạnh tranh trong nền kinh tế với sự xuất hiện của việc sản xuất và trao đổi hàng hoá. Trong dòng thời gian phát triển của nền kinh tế toàn cầu, khái niệm về cạnh tranh được nhiều nhà nghiên cứu xem xét và định nghĩa theo nhiều phương thức khác nhau, bên cạnh đó, thuật ngữ “cạnh tranh” cũng được sử dụng rất phô biến và rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như thê thao, thương mại, kinh tế, chính trị, luật, quân sự,. tùy thuộc vào đặc trưng và yêu cầu của từng ngành. Vé ban chit, lý thuyết về cạnh tranh bắt nguồn từ lý thuyết lợi thế so sánh của nhà kinh tế học David Ricardo.
Lý thuyết này được xây dựng trên một số giả thuyết về vốn, tài nguyên, lao động, chỉ phí của các quốc gia, cho rằng giữa các quốc gia có sự khác biệt về các yếu tố này và một số quốc gia có lợi thế cạnh tranh hơn trong. ngành nghề có sử dụng nhiều tài nguyên, nguồn lực, yếu tố sản xuất mà nước đó dồi đào. Trong cuốn “Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa” được xuất bản năm 1817. Ricardo cho rằng các quốc gia nên tập trung sản xuất những mặt hàng mà quốc gia mình dồi dào yếu tố sản xuắt, tốn ít chỉ phí và nhập khâu các mặt hàng mà quốc gia mình không có lợi thế so sánh.
Lý thuyết này vẫn đúng ngay cả khi lợi thế so sánh dồn hết về một quốc gia. Tuy nhiên, lý thuyết này lại không đề cập đến các yếu tố làm nên thành công của một doanh nghiệp trong kinh tế hiện đại như các yếu tố về công nghệ hay lợi thế về quy mô. Lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter đưa ra trong cuốn sách "Chiến lược cạnh tranh" xuất bản năm 1980 đã trở thành điểm nhắn trong lĩnh vực cạnh tranh trong giai đoạn này. Porter không chỉ khám phá năng lực cạnh tranh dưới góc độ.
quốc gia mà còn nghiên cứu chiến lược cạnh tranh ngành và cạnh tranh cắp công ty. Không giống như các lý thuyết trước đây tập trung vào kinh tế vĩ mô, M. Porter đã § nêu rõ tầm quan trọng của doanh nghiệp và tác động của vi mô đến môi trường cạnh tranh mà họ đối mặt. Porter đã tạo ra một sự phân biệt rõ ràng giữa lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh.
Trong khi lợi thế so sánh là một khái niệm thuộc lĩnh vực kinh tế, lợi thế cạnh tranh lại xuất phát từ quan điểm khoa học quản lý. Lợi thế so sánh tập trung vào cơ chế giá cả trên thị trường, còn lợi thế cạnh tranh liên quan trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp và ngành, với một sự nhắn mạnh vào yếu tố cạnh tranh không dựa vào giá. Xét từ góc độ cạnh tranh quốc tế, cả hai loại lợi thế này đều đóng vai trò quan trọng trong việc xác định vị trí và hướng phát triển của các ngành. Porter tin rằng sức mạnh cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào sức mạnh cạnh tranh của các ngành kinh tế riêng lẻ.
Và chính khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong một ngành - từ đổi mới công nghệ, sản phẩm, phong cách quản lý đến môi trường kinh doanh - tạo nên sức mạnh cạnh tranh của ngành đó. Quá trình sản xuất không chỉ dựa vào lao động, vốn hoặc tài nguyên, mà còn phụ thuộc vào những yếu tố do doanh nghiệp và Chính phủ đưa ra. Tại diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của OECD (2000) sử dụng định nghĩa về cạnh tranh như sat : "Cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” Củng bàn về khái niệm cạnh tranh, trong Nâng cao sức cạnh ranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Vũ Trọng Lâm (2006, trang. 4) đề cập: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thê kinh tế ganh đua nhau.
tìm mọi biện pháp đề đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thê kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi” 9 Có thể thấy, do đứng ở các góc độ nghiên cứu khác nhau nên khái niệm cạnh tranh của mỗi tác giả có sự khác biệt. Tuy nhiên, tựu chung lại, khái niệm cạnh tranh có thê hiểu là: ~ _ Cạnh tranh là sự ganh đua của các chủ thể kinh doanh cùng loại sản phẩm. trên cùng thị trường.
~_ Mục đích cuối cùng của mỗi chủ thể đều là lợi nhuận. Năng lực cạnh tranh là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực quản lý chiến lược và kinh doanh. Nó đề cập đến tập hợp các khả năng và nguồn lực của một tổ chức, ngành hoặc quốc gia để tạo ra và duy trì một lợi thế so với các đối thủ cạnh tranh trong môi trường kinh doanh. Khái niệm này đã được phát triển và định hình qua nhiều năm bởi các nhà nghiên cứu và học giả, đặc biệt là Michael Porter và Gary Hamel với các đóng góp quan trọng về cách hiểu và áp dụng năng lực cạnh tranh.
Theo Porter (1985), năng lực cạnh tranh có thẻ xuất phát từ hai nguồn chính: chỉ phí thấp và tao ra giá trị khác biệt. NLCT dựa trên chỉ phí thấp đỏi hỏi tổ chức phải tối ưu hóa quy trình sản xuất, quản lý chỉ phí và tối đa hóa hiệu quả trong việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ. Trong khi đó, NLCT dựa trên tạo ra giá trị khác biệt đề cao việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ độc đáo, đáp ứng nhu cầu độc quyền của khách hàng và tạo ra sự khác biệt so với đối thủ. Ngoài ra, Hamel và Prahalad (1990) đã đề xuất khái niệm “Năng lực cạnh tranh” là những kỹ năng và kiến thức cơ bản, độc đáo, mang tính chiến lược giúp một tổ chức tạo ra giá trị cạnh tranh đặc biệt so với đối thủ.
Những năng lực này không chỉ đơn thuần là những tài sản hay nguồn lực, mà còn là khả năng tích hợp và phối hợp hiệu quả các nguồn lực. Trong bối cảnh của ngành mây tre đan Việt Nam và Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA), năng lực cạnh tranh đòi hỏi ngành này phải tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, tuân thủ các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật khắt khe của thị trường EU, cũng như tận dụng các cơ hội thị trường mở rộng. Điều này bao gồm việc phát triển năng lực cạnh tranh trong. 10 việc thiết kế độc đáo, quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả và tạo ra giá trị độc đáo cho khách hàng.2 Các cấp của năng lực cạnh tranh "Năng lực cạnh tranh (NLCT) là một yếu tô quan trọng định hình khả năng của doanh nghiệp, ngành công nghiệp và quốc gia trong việc tương tác và tồn tại trong.
môi trường kinh doanh cạnh tranh. NLCT có thể được phân tích theo bốn cấp độ chính: NLCT cấp sản phẩm, NLCT cấp doanh nghiệp, NLCT cấp ngành và NLCT cấp quốc gia. NLCT Cấp Sản Pham: Tại cấp độ này, NLCT thề hiện khả năng cạnh tranh của một sản phẩm so với các sản phâm cùng loại trên thị trường. Yếu tố quyết định NLCT sản phẩm bao gồm.
chất lượng, tính năng, giá trị và khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Để có NLCT cấp sản phâm cao, sản phẩm cần phải tạo ra giá trị sử dụng cao và độc đáo, hấp dẫn khách hàng và khả năng thay thế trong thị trường. NLCT Cấp Doanh Nghiệp: Tại cấp độ doanh nghiệp, NLCT liên quan đến khả năng của một doanh nghiệp duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh trong thị trường. NLCT cấp doanh nghiệp gắn liền với quản lý tài chính hiệu quả, sử dụng tốt các nguồn tài nguyên như nhân công, vốn và kỹ thuật.
Điều quan trọng là xây dựng một ưu thế cạnh tranh bền vững qua việc phát triển sản phẩm, thương hiệu và quản lý hiệu suất kinh doanh. NLCT Cấp Ngành: Tại cấp độ ngành, NLCT phản ánh khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp so với các ngành khác. NLCT cấp ngành bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như khả năng cung ứng, nguy cơ bị thay thế, sức mạnh của khách hàng và mức độ cạnh tranh. Khả năng mở rộng thị trường, duy trì thị phần và tạo lợi nhuận là những yếu tố quan trọng tạo ra NLCT cấp ngành.
1I NLCT Cấp Quốc Gia: Tại cấp độ quốc gia, NLCT đánh giá khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong môi trường kinh doanh quốc tế. NLCT cấp quốc gia liên quan đến khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực như lao động, tài chính và tài nguyên để thúc đây phát triển kinh tế và tạo ra lợi ích cho đời sống người dân. Nhu vay, NLCT được thê hiện qua nhiều cấp độ khác nhau và tạo ra một mô hình phức tạp của sự cạnh tranh trong môi trường kinh doanh.2 Lý thuyết lợi thế so sánh 1.1 Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo Lợi thế so sánh của Ricardo (còn được gọi là "lý thuyết lợi thế so sánh" của Ricardo) la một nguyên tắc quan trọng trong lĩnh vực kinh tế quốc tế. Nguyên tắc này được phát triển bởi nhà kinh tế học người Anh David Ricardo vào những năm.
1817 và nằm trong tác phâm quan trọng của ông, "Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa" Lợi thế so sánh của Ricardo là một khái niệm quan trọng về cách các quốc gia nên tận dụng sự chuyên môn hóa và thúc đây ngoại thương để tối ưu hóa sự phân chia lao động và tăng cường phát triển kinh tế. Nguyên tắc này được trình bày như. Sau: Lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo bắt đầu từ giả định rằng giá trị của một sản phẩm phụ thuộc vào lượng lao động cần thiết để sản xuất ra nó. Theo lý thuyết của ông, mỗi quốc gia nên tập trung sản xuất và xuất khâu những mặt hàng mà họ có lợi thế so sánh, tức là có thê sản xuất với chỉ phí lao động thấp hơn so với các quốc gia khác.