Tổng quan nghiên cứu

Ngành mây tre đan Việt Nam đang khẳng định vị thế nổi bật trên bản đồ thủ công mỹ nghệ quốc tế khi đóng góp gần 500 triệu USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia, đạt mức 466 triệu USD vào năm 2022. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu biến động, thị trường Liên minh châu Âu (EU) đại diện cho một khối tiêu thụ khổng lồ với quy mô nhập khẩu đạt 1,38 tỷ USD, chiếm gần 50% tổng nhu cầu của thế giới. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để gia tăng năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm mây tre đan Việt Nam, khi thị phần tại EU năm 2022 mới chỉ đạt 16,26%, còn khoảng cách đáng kể so với con số 45,99% của Trung Quốc.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh, đánh giá thực trạng xuất khẩu của ngành hàng mây tre đan Việt Nam sang EU trong giai đoạn 2013-2022 và so sánh tương quan với hai đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Trung Quốc và Indonesia. Trên cơ sở đó, luận văn làm rõ những tác động từ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) có hiệu lực từ năm 2020 để hoạch định hệ thống giải pháp chiến lược cho giai đoạn 2023-2030.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian 27 quốc gia thành viên EU cùng chuỗi dữ liệu 10 năm từ 2013 đến 2022. Ý nghĩa của nghiên cứu gắn liền với việc tạo cơ sở thực tiễn cho hơn 1.000 doanh nghiệp và 893 làng nghề truyền thống trên cả nước nhằm đón đầu ưu đãi thuế quan 0% tiếp cận thị trường hơn 500 triệu dân, hướng tới mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng sản xuất ngành nghề đạt 10%/năm theo định hướng quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Lợi thế so sánh của David Ricardo công bố năm 1817 làm nền tảng phân tích phân công lao động quốc tế và chi phí sản xuất tương đối giữa các quốc gia. Bên cạnh đó, Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua Mô hình Kim cương của Michael Porter giới thiệu năm 1990 được khai thác để đánh giá 4 yếu tố nội khối gồm: điều kiện về yếu tố sản xuất, điều kiện về cầu, các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan, cùng môi trường cạnh tranh và cơ cấu ngành, kết hợp 2 biến ngoại khối là vai trò chính phủ và yếu tố cơ hội.

Nhằm khắc phục giới hạn của mô hình truyền thống trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, luận văn tích hợp Mô hình Kim cương đôi tổng quát do Rugman và Verbeke phát triển năm 1995. Khung mô hình này cho phép xem xét đồng thời cả viên kim cương nội địa và viên kim cương quốc tế, phản ánh đầy đủ tác động của dòng vốn FDI và mạng lưới phân phối xuyên biên giới.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm:

  • Năng lực cạnh tranh phân định theo 4 cấp độ: cấp sản phẩm, cấp doanh nghiệp, cấp ngành và cấp quốc gia;
  • Hệ số lợi thế so sánh biểu hiện (RCA) đo lường mức độ chuyên môn hóa xuất khẩu theo chuẩn phân loại của Hinloopen và Marrewijk năm 2001;
  • Nhóm ngành mây tre đan theo phân loại của Tổ chức Hải quan Thế giới gồm mã HS 4601 (dây tết bện và sản phẩm tương tự) và mã HS 4602 (hàng mây tre lá, liễu gai và cây họ mướp).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn là dữ liệu thứ cấp chuẩn hóa quốc tế được tổng hợp từ Trung tâm Thương mại Quốc tế (Trade Map), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổng cục Hải quan Việt Nam và Niên giám Thống kê năm 2023 trong chuỗi thời gian 10 năm từ 2013 đến 2022.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm bộ dữ liệu 36 biến đại diện định lượng thuộc 8 định thức (4 yếu tố cơ bản xét trên cả 2 cấp độ nội địa và quốc tế) của 3 quốc gia sản xuất mây tre đan hàng đầu: Việt Nam, Trung Quốc và Indonesia. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm chọn lọc các chỉ số có tính đại diện cao nhất về năng lực xuất khẩu, công nghệ, tài chính và logistics.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích chỉ số RCA kết hợp ma trận định lượng mô hình kim cương đôi (chuẩn hóa thang điểm 100 cho quốc gia dẫn đầu) là nhằm đo lường chính xác lợi thế so sánh động và lượng hóa điểm mạnh, điểm yếu tương đối của ngành hàng qua từng giai đoạn, tránh việc chỉ đánh giá đơn thuần dựa trên quy mô kim ngạch xuất khẩu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về kim ngạch và thị phần, xuất khẩu mây tre đan Việt Nam ra thị trường toàn cầu đã tăng trưởng ấn tượng từ 302 triệu USD năm 2020 lên 466 triệu USD năm 2022. Trong giai đoạn 2013-2022, thị phần của Việt Nam trên thị trường thế giới tăng 6%, từ mức 7,3% lên 13,43%. Riêng tại thị trường EU, kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam đạt 186 triệu USD năm 2022, tăng gần gấp 3 lần sau 10 năm và chiếm 16,26% thị phần EU, giữ vững vị trí thứ hai sau Trung Quốc (đạt 528 triệu USD, chiếm 45,99%).

Thứ hai, về chỉ số lợi thế so sánh biểu hiện, hệ số RCA của mặt hàng mây tre đan Việt Nam duy trì ở mức cao vượt trội. Mặc dù chỉ số này có xu hướng giảm từ 10,56 năm 2013 xuống 7,00 vào năm 2022 do tốc độ mở rộng của các ngành công nghiệp chế biến chế tạo khác, nhưng mức RCA luôn lớn hơn 4, khẳng định ngành mây tre đan Việt Nam sở hữu lợi thế so sánh chuyên môn hóa rất cao so với Trung Quốc và Indonesia (cả hai nước đều có hệ số RCA dưới 4 trong năm 2021-2022).

Thứ ba, về thực trạng chuỗi cung ứng, nghiên cứu chỉ ra điểm nghẽn nghiêm trọng khi kim ngạch nhập khẩu nguyên liệu mây tre của Việt Nam tăng mạnh từ 1,84 triệu USD năm 2013 lên 42,13 triệu USD năm 2022. Đáng chú ý, nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm từ 93% đến 95% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam. Hệ thống 893 làng nghề với hơn 350.000 lao động chủ yếu sản xuất theo quy mô hộ gia đình, gia công thô và có dưới 5% doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay dài hạn.

Các dữ liệu phân tích này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đường xu hướng để minh họa thị phần xuất khẩu giai đoạn 2013-2022, cùng biểu đồ mạng nhện đa chiều mô tả sự tương quan giữa các góc cạnh kim cương nội địa và quốc tế của ba quốc gia.

Thảo luận kết quả

Kết quả đánh giá theo mô hình kim cương đôi tổng quát cho thấy Việt Nam sở hữu tiềm năng lớn ở 3 yếu tố: điều kiện sản xuất cơ bản, điều kiện cầu thị trường và môi trường cạnh tranh. Nguồn lao động dồi dào với 54,4% dân số trong độ tuổi lao động kết hợp cùng tay nghề thủ công tinh xảo tạo nên lợi thế giá thành cạnh tranh. Thêm vào đó, Hiệp định EVFTA mang lại lợi thế vượt trội về thuế quan giúp giá thành hàng hóa Việt Nam hấp dẫn hơn tại châu Âu.

Tuy nhiên, khi đối chuẩn với Trung Quốc và Indonesia, Việt Nam bộc lộ điểm yếu lớn ở yếu tố các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan. Trung Quốc sở hữu hệ sinh thái công nghiệp phụ trợ vượt trội với số lượng bằng sáng chế mây tre đan tăng gấp đôi giai đoạn 2010-2020 và mạng lưới thương mại điện tử B2B quy mô lớn. Indonesia lại dẫn đầu về phát triển rừng nguyên liệu đạt chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC và chiến lược bảo hộ nhãn hiệu di sản văn hóa.

Việc Anh rời EU (Brexit) khiến kim ngạch xuất khẩu mây tre đan Việt Nam sang EU giảm nhẹ từ 119 triệu USD năm 2019 xuống 115 triệu USD năm 2020 là minh chứng cho thấy ngành hàng dễ bị tổn thương nếu thiếu sự thích ứng linh hoạt với các biến động thể chế và rào cản kỹ thuật xanh tại thị trường phương Tây.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp công nghệ sản xuất và tiêu chuẩn hóa chất lượng sản phẩm xanh. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp cùng các hiệp hội ngành nghề hỗ trợ doanh nghiệp chuyển giao công nghệ xử lý mối mọt sinh học và hệ thống sấy tiên tiến; đặt mục tiêu đến năm 2027 có ít nhất 30% sản lượng xuất khẩu sang EU đạt chứng nhận chuỗi hành trình rừng FSC hoặc chứng chỉ sinh thái tương đương.

Thứ hai, quy hoạch và chủ động phát triển vùng nguyên liệu tập trung bền vững. Ủy ban nhân dân các địa phương tại khu vực miền Bắc và miền Trung triển khai quy hoạch 50.000 hecta vùng trồng mây, tre, song chuyên canh theo cơ chế hỗ trợ 100% kinh phí nghiên cứu giống mới quy định tại Quyết định 11/2011/QĐ-TTg; hướng tới mục tiêu giảm tỷ trọng phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu từ mức 93% hiện nay xuống dưới 50% vào năm 2030.

Thứ ba, đẩy mạnh xúc tiến thương mại số và xây dựng thương hiệu quốc gia. Cục Xúc tiến Thương mại thuộc Bộ Công Thương chủ trì tổ chức đoàn doanh nghiệp tham gia thường niên tại các hội chợ chuyên ngành quốc tế như IMM Cologne (Đức) và Milan Design Week (Ý); đồng thời thúc đẩy đưa sản phẩm lên các nền tảng thương mại điện tử quốc tế nhằm mở rộng thị phần tại EU từ 16,26% lên mức 25% trước năm 2030.

Thứ tư, tái cấu trúc chính sách tài chính và bảo hộ sở hữu trí tuệ làng nghề. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng thiết kế gói tín dụng ưu đãi trung và dài hạn, nâng tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận vốn dài hạn từ dưới 5% lên trên 20% trong giai đoạn 2024-2028. Song song đó, Cục Sở hữu Trí tuệ hỗ trợ đăng ký chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu tập thể cho tối thiểu 50% số làng nghề mây tre đan theo mục tiêu của Quyết định 801/QĐ-TTg.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng chính quyền địa phương. Luận văn cung cấp bộ dữ liệu thực chứng 10 năm và khung phân tích định lượng làm căn cứ xây dựng kế hoạch hành động triển khai Quyết định 801/QĐ-TTg về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống.

Thứ hai, các chủ doanh nghiệp và nhà quản trị xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ. Thông tin phân tích về chuỗi cung ứng, cấu trúc chi phí và các cam kết kỹ thuật trong EVFTA giúp doanh nghiệp tái định hình chiến lược sản phẩm, xây dựng hồ sơ truy xuất nguồn gốc để khai thác tối đa ưu đãi thuế quan 0%.

Thứ ba, ban lãnh đạo các hiệp hội làng nghề và hợp tác xã sản xuất mây tre đan. Tài liệu mang lại góc nhìn đối chuẩn kinh nghiệm thực tiễn từ Trung Quốc và Indonesia, giúp các làng nghề định hướng chuyển từ gia công thụ động sang liên kết chuỗi giá trị và đăng ký chứng nhận FSC.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kinh doanh Thương mại, Kinh tế Quốc tế. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp mô hình kim cương đôi 36 biến số với hệ số RCA trong nghiên cứu năng lực cạnh tranh ngành hàng xuất khẩu.

Câu hỏi thường gặp

Hiệp định EVFTA mang lại những ưu đãi thuế quan cụ thể nào cho ngành mây tre đan Việt Nam?

EVFTA xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu từ mức 3% đến 9% về 0% cho hầu hết các dòng sản phẩm mây tre đan thuộc nhóm HS 4601 và HS 4602 ngay khi hiệp định có hiệu lực từ tháng 8/2020. Lợi thế thuế quan này giúp sản phẩm Việt Nam cạnh tranh trực tiếp về giá với hàng hóa Trung Quốc vốn đang chịu mức thuế thông thường tại thị trường EU.

Vì sao hệ số RCA của Việt Nam giảm từ 10,56 xuống 7,00 nhưng vẫn được đánh giá là có lợi thế so sánh rất cao?

Theo chuẩn phân loại của Hinloopen và Marrewijk, bất kỳ chỉ số RCA nào lớn hơn 4 đều thể hiện lợi thế so sánh biểu hiện ở mức cao nhất. Việc chỉ số giảm từ 10,56 năm 2013 xuống 7,00 năm 2022 là do quy mô xuất khẩu chung của các ngành công nghệ cao tăng vọt, trong khi năng lực xuất khẩu mây tre đan thực tế vẫn tăng từ 302 triệu USD lên 466 triệu USD.

Thách thức lớn nhất trong chuỗi cung ứng nguyên liệu mây tre đan hiện nay là gì?

Thách thức cốt lõi là tình trạng khan hiếm nguồn nguyên liệu sạch trong nước khiến giá trị nhập khẩu tăng mạnh từ 1,84 triệu USD lên 42,13 triệu USD giai đoạn 2013-2022. Đáng lo ngại là 93% đến 95% nguồn cung phụ thuộc vào Trung Quốc, đặt ra nguy cơ rủi ro cao về biến động giá đầu vào và yêu cầu truy xuất xuất xứ nghiêm ngặt của EU.

Kinh nghiệm phát triển ngành mây tre đan của Indonesia mang lại bài học gì cho Việt Nam?

Indonesia đã thành công trong việc liên kết doanh nghiệp với các tổ chức môi trường quốc tế để chuẩn hóa chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC và đăng ký các mẫu đan Bali thành di sản phi vật thể thế giới. Việt Nam cần học tập mô hình này để nâng cao giá trị gia tăng và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh khắt khe tại EU.

Doanh nghiệp làng nghề quy mô nhỏ cần giải pháp gì để tiếp cận nguồn vốn dài hạn?

Doanh nghiệp cần liên kết thành các cụm hợp tác xã để nâng cao năng lực pháp lý và minh bạch sổ sách tài chính, qua đó đủ điều kiện tiếp cận các gói vay ưu đãi theo Quyết định 11/2011/QĐ-TTg. Mục tiêu là nâng tỷ lệ doanh nghiệp tiếp cận vốn dài hạn từ mức dưới 5% hiện nay lên trên 20% nhằm đổi mới máy móc thiết bị tạo khuôn và phun sơn tự động.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh thông qua việc kết hợp Lý thuyết Lợi thế so sánh của Ricardo, Mô hình Kim cương của Porter và Mô hình Kim cương đôi của Rugman và Verbeke.
  • Nghiên cứu thực nghiệm chuỗi số liệu 10 năm (2013-2022) khẳng định vị thế vững chắc của Việt Nam là quốc gia xuất khẩu mây tre đan thứ 2 thế giới với quy mô 466 triệu USD, chiếm 16,26% thị phần tại EU năm 2022.
  • Hệ số RCA luôn duy trì trên 7,00 chứng minh mặt hàng mây tre đan của Việt Nam có lợi thế so sánh chuyên môn hóa vượt trội so với các đối thủ trong khu vực khi tận dụng ưu đãi thuế quan 0% từ Hiệp định EVFTA.
  • Đề tài chỉ rõ những rào cản nội tại của ngành gồm: phụ thuộc tới 95% nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc, thiếu hụt vốn vay dài hạn (dưới 5% doanh nghiệp tiếp cận) và công nghệ chế biến tạo mẫu còn hạn chế.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược liên hoàn từ công nghệ sinh học, vùng nguyên liệu tập trung, xúc tiến thương mại số đến cơ chế vốn và thương hiệu được thiết lập đồng bộ cho giai đoạn 2023-2030.

Lộ trình tiếp theo đặt trọng tâm vào giai đoạn 2024-2026 nhằm quy hoạch vùng nguyên liệu sạch và đào tạo kỹ năng cho 893 làng nghề, tạo đòn bẩy cho giai đoạn 2027-2030 bứt phá thị phần tại EU lên mức 25%. Các doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan quản lý cần chủ động thực thi ngay các giải pháp đồng bộ để chuyển hóa lợi thế tự nhiên thành năng lực cạnh tranh bền vững trên thị trường quốc tế.