Tổng quan nghiên cứu

Ngành sản xuất gốm sứ thủ công mỹ nghệ giữ vai trò trọng yếu trong cơ cấu xuất khẩu hàng thủ công của Việt Nam, chiếm tỷ trọng lên đến 40% toàn ngành. Theo thống kê từ UN Comtrade, kim ngạch xuất khẩu gốm sứ cả nước năm 2014 đạt 514 triệu USD, vươn tới các thị trường phát triển hàng đầu như Nhật Bản (16%), Đài Loan (13%), Hoa Kỳ (10%) và Thái Lan (7%). Trong bức tranh phát triển chung, cụm ngành gốm sứ tỉnh Bình Dương giữ vị thế đầu tàu khi đóng góp tới 41% tổng sản lượng cả nước, thừa hưởng bề dày lịch sử hàng trăm năm cùng nguồn tài nguyên cao lanh dồi dào.

Tuy nhiên, cụm ngành đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng khi số lượng cơ sở sản xuất sụt giảm mạnh từ 362 đơn vị năm 2007 xuống còn khoảng 230 đơn vị vào cuối năm 2010. Dù có tới 80% sản lượng hướng đến xuất khẩu, nhưng hơn 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ dừng lại ở khâu gia công thô cho các đơn vị trung gian quốc tế. Tình trạng này khiến các cơ sở sản xuất tại địa phương chỉ chiếm lĩnh được khoảng 20% doanh thu ròng trong toàn bộ chuỗi giá trị nhưng phải gánh chịu toàn bộ chi phí nguyên vật liệu và rủi ro thị trường.

Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Phạm Minh Khoa, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright năm 2016, tập trung phân tích toàn diện các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của cụm ngành gốm sứ Bình Dương giai đoạn 2001 - 2015. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là làm sáng tỏ những nút thắt cản trở quá trình nâng cấp chuỗi giá trị, đánh giá tính bền vững của các liên kết ngang và liên kết dọc, từ đó đề xuất các giải pháp chính sách công có tính thực thi cao nhằm nâng mức năng suất lao động của ngành từ 131,74 triệu đồng/người/năm tiệm cận mức trung bình công nghiệp toàn tỉnh là 193,4 triệu đồng/người/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu kết hợp hai khung phân tích kinh tế kinh điển nhằm thiết lập góc nhìn đa chiều về năng lực cạnh tranh vi mô và vĩ mô:

  • Lý thuyết Cụm ngành (Cluster Theory) và Mô hình Kim cương của Michael Porter (1990, 1998): Đánh giá năng lực cạnh tranh địa phương thông qua 4 đỉnh tương tác gồm: Điều kiện nhân tố đầu vào; Điều kiện cầu nội địa; Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan; Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp. Mô hình đồng thời xem xét tác động điều tiết then chốt từ vai trò của Chính phủ và các biến số ngẫu nhiên.
  • Lý thuyết Chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain - GVC) của Gary Gereffi (1994) kết hợp khung nâng cấp của Kaplinsky & Morris (2001): Nhận diện cấu trúc ngành gốm sứ thuộc dạng chuỗi do người mua điều phối (buyer-driven chain). Luận văn đánh giá 4 nấc thang nâng cấp bao gồm: nâng cấp quy trình (process upgrading), nâng cấp sản phẩm (product upgrading), nâng cấp chức năng (functional upgrading) và nâng cấp chuỗi giá trị (chain/inter-sectoral upgrading).
  • Hệ thống các khái niệm cốt lõi: Luận văn vận dụng 4 khái niệm nền tảng: Năng suất (thước đo thực chất của năng lực cạnh tranh), Vốn xã hội (mạng lưới quan hệ hợp tác và niềm tin trong làng nghề), Thương hiệu tập thể (công cụ chia sẻ chi phí marketing cho doanh nghiệp vừa và nhỏ), và Bất cân xứng thông tin trên thị trường nội địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích dữ liệu thống kê mô tả nhằm xử lý hệ thống thông tin đa nguồn trong mốc thời gian từ năm 2001 đến năm 2015:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Tổng cục Thống kê, Hải quan Việt Nam, Niên giám Thống kê tỉnh Bình Dương, cơ sở dữ liệu UN Comtrade, Thư viện số Cục Sở hữu Trí tuệ (IP LIB) và các báo cáo ngành của Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thực hiện điều tra thực địa với cỡ mẫu gồm 20 doanh nghiệp sản xuất gốm sứ tiêu biểu. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng có chủ đích (stratified purposive sampling) dựa trên mật độ tập trung tại 3 địa bàn làng nghề truyền thống trọng điểm: Thành phố Thủ Dầu Một, Thị xã Thuận An và Huyện Tân Uyên.
  • Phỏng vấn sâu bán cấu trúc: Tiến hành tham vấn chuyên gia và đại diện lãnh đạo từ 5 cơ quan quản lý gồm: Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Cục Đo lường Chất lượng sản phẩm và Ban quản lý Khu công nghiệp Đất Cuốc.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Sự kết hợp giữa khảo sát doanh nghiệp và phỏng vấn sâu cơ quan quản lý giúp đối chiếu thực trạng bất cập giữa chính sách ban hành từ trên xuống với nhu cầu thực tế của thị trường, giải thích nguyên nhân gốc rễ khiến doanh nghiệp gốm sứ không thể bứt phá lên các phân đoạn có giá trị gia tăng cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Sự bế tắc trong nâng cấp chức năng và phụ thuộc chuỗi giá trị: Có tới 80% sản lượng gốm sứ Bình Dương được xuất khẩu nhưng hơn 90% hàng hóa của các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải xuất khẩu thô không thương hiệu qua trung gian quốc tế. Trong khi phân đoạn sản xuất chỉ thu về 20% doanh thu ròng của chuỗi giá trị, các khâu mang lại biên lợi nhuận cao như thiết kế và phân phối thương hiệu lại bị bỏ ngỏ. Khảo sát chỉ ra 35% doanh nghiệp tự nhận không có năng lực nghiên cứu phát triển (R&D) và 60% khẳng định hoàn toàn thiếu vắng các cơ sở nghiên cứu hỗ trợ tại địa phương.
  • Khủng hoảng thiếu hụt lao động tay nghề cao và năng suất thấp: Dù toàn ngành thu hút khoảng 11.000 lao động, nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo chung của tỉnh chỉ đạt 18,65%. Có 90% doanh nghiệp xác nhận hoạt động dựa vào đội ngũ nghệ nhân chuyên biệt và 35% xem đây là năng lực cốt lõi. Tuy nhiên, đội ngũ thợ lành nghề đang bước vào độ tuổi nghỉ hưu trong khi thế hệ kế cận chưa được đào tạo bài bản. Tốc độ tăng năng suất lao động ngành gốm sứ chỉ đạt 5,5%/năm (đạt 131,74 triệu đồng/người/năm giai đoạn 2006 - 2011), thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình 193,4 triệu đồng/người/năm và mức tăng 8,9%/năm của toàn ngành công nghiệp chế biến tỉnh.
  • Bỏ trống thị trường nội địa và hạn chế của thương hiệu tập thể: Thị trường gốm sứ gia dụng trong nước đạt giá trị hơn 5.000 tỷ đồng vào năm 2012, nhưng các doanh nghiệp Bình Dương chỉ chiếm 15,5% thị phần. Hàng nhập khẩu Trung Quốc chiếm lĩnh tới 70% nhờ lợi thế giá rẻ và hưởng thuế suất nhập khẩu ưu đãi chỉ 5% (theo Hiệp định ACFTA) so với mức thuế thông thường 35%. Mặc dù nhãn hiệu tập thể "Gốm sứ Bình Dương" đã đăng ký từ năm 2012, nhưng chỉ có 12 doanh nghiệp lớn tham gia theo cơ chế áp đặt từ trên xuống, loại trừ hơn 270 cơ sở nhỏ lẻ khiến nhãn hiệu chưa tạo được sức lan tỏa thương mại.
  • Rào cản mặt bằng sản xuất và lỗ hổng thực thi sở hữu trí tuệ: Khoảng 45% doanh nghiệp đánh giá việc không thể mở rộng quỹ đất do nằm xen lẫn trong khu dân cư là rào cản làm suy giảm sức cạnh tranh. Bên cạnh đó, tình trạng sao chép kiểu dáng diễn ra tràn lan khiến doanh nghiệp mất từ 20% đến 30% lợi nhuận thu được từ tính khác biệt. Thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp kéo dài từ 7 đến 18 tháng, trong khi các cơ sở vi phạm chỉ mất 2 tháng để tung hàng nhái ra thị trường, làm triệt tiêu động lực đổi mới sáng tạo.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện phản ánh rõ nét tình trạng bẫy gia công giá trị thấp mà các cụm ngành truyền thống tại các nước đang phát triển thường gặp phải. Khi so sánh với cụm ngành gốm sứ Cảnh Đức Trấn (Giang Tây, Trung Quốc), sự thua kém của gốm sứ Bình Dương thể hiện rõ ở cấu trúc liên kết thể chế. Cảnh Đức Trấn đã xây dựng hoàn chỉnh hệ sinh thái hỗ trợ gồm Học viện Gốm sứ chuyên trách đào tạo và R&D, hệ thống bảo tàng kết hợp chuỗi du lịch làng nghề để quảng bá thương hiệu quốc tế.

Tại Bình Dương, dù quy hoạch mỏ nguyên liệu cao lanh có tổng trữ lượng khai thác công nghiệp lên đến 20,2 triệu tấn (trong đó mỏ Đất Cuốc chiếm 18 triệu tấn và mỏ Tân Lập chiếm 2,2 triệu tấn, cung cấp năng lực chế biến 350.000 tấn/năm), nhưng lợi thế tài nguyên thô không đủ bù đắp cho sự yếu kém về công nghệ và thiết kế. Qua biểu đồ so sánh cơ cấu ngành công nghiệp chế biến của tỉnh, gốm sứ đang tụt lại phía sau các ngành điện tử hay đồ uống về tốc độ tăng trưởng. Điểm sáng hiếm hoi đến từ trường hợp doanh nghiệp tiên phong như Minh Long 1 khi dám đầu tư công nghệ nung 1.380 độ C theo tiêu chuẩn Đức và đưa 7 cánh tay robot vào sản xuất (mỗi robot thay thế 20 nhân công), khẳng định rằng nâng cấp công nghệ chính là lối thoát duy nhất khỏi cuộc đua giảm giá xuống đáy.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tái cấu trúc và phát triển thương hiệu tập thể "Gốm sứ Bình Dương": Chuyển đổi mô hình quản trị thương hiệu từ cơ chế hành chính sang phương thức tiếp cận từ dưới lên với sự chủ trì của Hiệp hội Gốm sứ Bình Dương. Mở rộng quy chế sử dụng nhãn hiệu cho hơn 100 doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật. Đặt mục tiêu nâng thị phần gốm sứ Bình Dương tại thị trường nội địa từ 15,5% lên 30% trong giai đoạn 5 năm thông qua việc tổ chức các chuỗi xúc tiến thương mại và tuần lễ gốm sứ định kỳ.
  • Đổi mới cơ chế đào tạo nguồn nhân lực theo mô hình liên kết 3 bên: Thiết lập chương trình hợp tác công tư giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, các trường đào tạo nghệ thuật (Trường Cao đẳng Mỹ thuật - Trang trí Đồng Nai, Đại học Mỹ thuật) và các doanh nghiệp trong cụm ngành. Đưa chương trình thực tập xưởng và thiết kế ứng dụng vào giảng dạy, phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên ngành gốm sứ từ 18,65% lên 40% trong lộ trình 3 đến 5 năm, đồng thời chuẩn hóa chế độ đãi ngộ cho nghệ nhân kế cận.
  • Thành lập Quỹ đồng tài trợ R&D và cải cách bảo hộ sở hữu trí tuệ: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương cần triển khai chính sách hoàn trả 30% đến 50% chi phí cho các hợp đồng nghiên cứu thiết kế men màu và cải tiến mẫu mã của doanh nghiệp vừa và nhỏ với các viện trường. Rút ngắn thời gian thẩm định và cấp văn bằng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp từ mức 7 - 18 tháng xuống còn dưới 60 ngày đối với các sản phẩm thủ công mỹ nghệ có tính thời vụ cao.
  • Hoàn thiện hạ tầng cụm công nghiệp chuyên ngành và kết nối du lịch: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương cần hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và cơ chế ưu đãi giá thuê đất tại Cụm công nghiệp gốm sứ Đất Cuốc (Bắc Tân Uyên) nhằm hoàn tất di dời hơn 100 cơ sở sản xuất nằm xen lẫn trong khu dân cư. Đồng thời, xây dựng tuyến du lịch trải nghiệm không gian gốm sứ Lái Thiêu - Tân Phước Khánh kết nối với các tour lữ hành Đông Nam Bộ nhằm quảng bá văn hóa và kích cầu tiêu dùng tại chỗ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên thuộc Sở Công Thương, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Dương và các tỉnh lân cận. Nghiên cứu cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề, hoàn thiện chính sách bảo hộ tài sản trí tuệ và thiết kế gói hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Chủ doanh nghiệp và Hiệp hội ngành nghề gốm sứ: Ban chấp hành Hiệp hội Gốm sứ Bình Dương cùng các chủ cơ sở sản xuất thủ công mỹ nghệ. Tài liệu chỉ ra định hướng đầu tư tự động hóa, bài học ứng dụng công nghệ nung nhiệt độ cao, chiến lược phát triển thương hiệu tập thể và giải pháp thoát ly bẫy gia công xuất khẩu thô.
  • Chuyên gia tư vấn chiến lược và tổ chức xúc tiến thương mại: Các tổ chức phát triển ngành hàng thủ công như Vietcraft, VCCI và các đơn vị logistics. Luận văn cung cấp khung tham chiếu chi tiết về chuỗi giá trị và phân tích năng lực cạnh tranh thực địa để xây dựng các dự án kết nối thị trường xuất khẩu.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành: Các nhà nghiên cứu ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Quản trị chuỗi cung ứng và Kinh tế học công nghiệp. Công trình là tài liệu tham khảo mẫu mực về việc ứng dụng kết hợp Mô hình Kim cương của Michael Porter và Lý thuyết Chuỗi giá trị toàn cầu vào bối cảnh kinh tế địa phương tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao cụm ngành gốm sứ Bình Dương chiếm 41% sản lượng cả nước nhưng lợi nhuận thu về vẫn thấp? Do cụm ngành chủ yếu tham gia vào khâu gia công sản xuất với hơn 90% sản phẩm xuất khẩu thô qua các nhà phân phối trung gian. Khâu sản xuất chỉ chiếm khoảng 20% doanh thu ròng trong chuỗi giá trị toàn cầu nhưng chịu toàn bộ chi phí hao tổn nguyên liệu và năng lượng, trong khi các khâu mang lại giá trị cao như thiết kế R&D và phân phối thương hiệu đều nằm trong tay các công ty nước ngoài.
  • Thách thức lớn nhất đối với bài toán nhân lực của gốm sứ Bình Dương là gì? Đó là sự đứt gãy thế hệ nghệ nhân lành nghề. Có tới 90% doanh nghiệp phụ thuộc vào lao động có kỹ năng chuyên biệt nhưng đội ngũ này đã đến tuổi nghỉ hưu. Trong khi đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh chỉ đạt 18,65%, các cơ sở đào tạo thiếu gắn kết với thực tiễn doanh nghiệp khiến năng suất lao động của ngành (131,74 triệu đồng/người/năm) tụt hậu xa so với mặt bằng chung.
  • Vì sao nhãn hiệu tập thể "Gốm sứ Bình Dương" đăng ký từ năm 2012 vẫn chưa phát huy hiệu quả? Nguyên nhân do nhãn hiệu được xây dựng theo cơ chế từ trên xuống và chỉ quy tụ 12 doanh nghiệp lớn. Các doanh nghiệp lớn vốn đã có thương hiệu riêng nên thiếu động lực đóng góp, trong khi hàng trăm cơ sở sản xuất vừa và nhỏ có nhu cầu dựa vào thương hiệu chung lại không được tạo điều kiện tham gia và thiếu vắng nguồn kinh phí quảng bá bài bản.
  • Tình trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ ảnh hưởng cụ thể thế nào đến doanh nghiệp? Việc làm nhái kiểu dáng diễn ra rất nhanh (chỉ sau 2 tháng có mẫu mới) trong khi quy trình đăng ký bảo hộ hành chính kéo dài từ 7 đến 18 tháng. Tình trạng này khiến các doanh nghiệp đầu tư sáng tạo bị mất từ 20% đến 30% biên lợi nhuận khác biệt, dẫn đến tâm lý e ngại đổi mới và triệt tiêu động lực nghiên cứu mẫu mã mới.
  • Doanh nghiệp gốm sứ nội địa cần làm gì để cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu giá rẻ từ Trung Quốc? Doanh nghiệp cần chuyển dịch từ cạnh tranh bằng giá sang cạnh tranh bằng chất lượng và thẩm mỹ. Điển hình như đầu tư công nghệ nung nhiệt độ cao 1.380 độ C để loại bỏ hoàn toàn độc tố chì và cadimi theo tiêu chuẩn QCVN 12-4:2015/BYT, áp dụng tự động hóa cục bộ nhằm giảm chi phí nhân công và tập trung phục vụ thị trường ngách như chuỗi nhà hàng khách sạn cao cấp.

Kết luận

  • Luận văn đã làm rõ bức tranh toàn cảnh về năng lực cạnh tranh của cụm ngành gốm sứ Bình Dương thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa Mô hình Kim cương của Michael Porter và Chuỗi giá trị toàn cầu.
  • Nghiên cứu chỉ ra 4 điểm nghẽn cốt lõi: phụ thuộc gia công xuất khẩu thô (chiếm 20% giá trị ròng), thiếu hụt trầm trọng nghệ nhân kế cận, bất cập trong quản trị thương hiệu tập thể và rào cản từ thủ tục bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp công mang tính đột phá gồm: tái cấu trúc nhãn hiệu tập thể gắn với doanh nghiệp vừa và nhỏ, liên kết đào tạo 3 bên nâng tỷ lệ lao động có tay nghề lên 40%, tài trợ 30% - 50% chi phí R&D và quy hoạch hoàn chỉnh Cụm công nghiệp Đất Cuốc.
  • Lộ trình thực thi chính sách cần được chia thành hai giai đoạn trọng tâm: hoàn thiện thể chế hỗ trợ và liên kết đào tạo trong giai đoạn 2016 - 2020, tiến tới hiện đại hóa công nghệ và định vị thương hiệu quốc tế giai đoạn 2020 - 2025.
  • Để di sản gốm sứ Bình Dương chuyển mình thành một cụm ngành kinh tế hiện đại, các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần hành động ngay hôm nay nhằm biến các khuyến nghị chính sách thành những đề án hành động cụ thể.