Tổng quan nghiên cứu

Du lịch Hà Nội giữ vai trò nòng cốt trong chiến lược phát triển kinh tế Thủ đô với mục tiêu đóng góp từ 15% đến 16% GDP toàn thành phố theo định hướng quy hoạch đến năm 2030. Đồng thời, Hà Nội đóng vai trò là trung tâm phân phối khách lớn nhất miền Bắc, chiếm khoảng 15% tổng lượng khách du lịch nội địa của cả nước. Về tài nguyên, Thủ đô sở hữu lợi thế văn hóa nhân văn vượt trội với 5.175 di tích lịch sử văn hóa (trong đó có 1.050 di tích cấp quốc gia, chiếm gần 20% tổng số di tích cả nước) cùng 2 di sản thế giới được UNESCO công nhận là Hoàng thành Thăng Long và Hội Gióng.

Tuy nhiên, hiệu quả phát triển du lịch thực tế chưa tương xứng với tiềm năng khi đặt trong tương quan so sánh với các trung tâm du lịch khu vực Đông Nam Á. Số liệu thống kê giai đoạn 2008 - 2014 cho thấy lượng khách du lịch quốc tế đến Băng Cốc (Thái Lan) cao gấp trên 7 lần và lượng khách nội địa cao gấp hơn 2 lần so với Hà Nội. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những bất cập trong định hướng chính sách khi thành phố tập trung quá nhiều nguồn lực vào các dự án bất động sản nghỉ dưỡng, sân gôn và khu vui chơi giải trí quy mô lớn tại khu vực ngoại thành với tổng diện tích quy hoạch vượt 5.000 ha và tổng vốn đầu tư đăng ký trên 12 tỷ USD. Ngược lại, việc đầu tư bảo tồn không gian di sản nội đô và cải thiện môi trường du lịch chưa được quan tâm đúng mức.

Luận văn thạc sĩ chính sách công của tác giả Nguyễn Đức Hiếu (Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, niên khóa MPP6) tập trung phân tích sự hình thành cụm ngành du lịch Hà Nội, nhận diện các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và đánh giá tác động của các chính sách hiện hành giai đoạn 2008 - 2014. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để các nhà hoạch định chính sách tái cơ cấu nguồn lực đầu tư, hướng tới mục tiêu kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng mức chi tiêu bình quân của du khách (vốn chỉ đạt 115 USD/ngày đối với khách quốc tế và 1.000.000 đồng/ngày đối với khách nội địa).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Lý thuyết Cụm ngành (Cluster Theory) và Mô hình Kim cương (Diamond Model) của Michael Porter (1990, 2008), kết hợp với khung phân tích năng lực cạnh tranh cấp độ địa phương do Vũ Thành Tự Anh (2012) hiệu chỉnh. Cụm ngành du lịch được định nghĩa là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp du lịch, các nhà cung ứng chuyên biệt, các doanh nghiệp trong các ngành liên quan và các thể chế hỗ trợ (trường đào tạo, viện nghiên cứu, hiệp hội nghề nghiệp), vừa hợp tác vừa cạnh tranh để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn.

Mô hình kim cương phân tích năng lực cạnh tranh cụm ngành thông qua 4 yếu tố tương tác có tính hệ thống:

  1. Điều kiện các nhân tố đầu vào: Đánh giá chất lượng tài nguyên du lịch nhân văn, cơ sở hạ tầng giao thông, viễn thông và năng lực của 81.141 lao động trực tiếp trong ngành du lịch tính đến năm 2013.
  2. Điều kiện về cầu: Xem xét quy mô, cơ cấu và hành vi tiêu dùng của 13,99 triệu lượt khách nội địa và 2,581 triệu lượt khách quốc tế đến Hà Nội.
  3. Các ngành hỗ trợ và có liên quan: Khảo sát mạng lưới 1.751 cơ sở lưu trú với 25.532 buồng phòng, 33.984 cơ sở dịch vụ ăn uống, cùng các dịch vụ tài chính, y tế và mua sắm.
  4. Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp: Phân tích cơ cấu cạnh tranh giữa hơn 1.600 doanh nghiệp lữ hành và môi trường kinh doanh thông qua chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI đạt 57,67 điểm năm 2013). Vai trò của chính quyền địa phương được xem xét như một tác nhân định hình thể chế và chính sách hỗ trợ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp so sánh đối chuẩn (benchmarking) với Băng Cốc và phân tích dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2008 - 2014 thu thập từ Tổng cục Thống kê, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội, Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch và Cục Du lịch Băng Cốc.

Đối với dữ liệu sơ cấp, tác giả thực hiện kỹ thuật phỏng vấn sâu chuyên gia dựa trên bảng câu hỏi bán cấu trúc với 5 nhóm tác nhân cốt lõi trong cụm ngành: (1) Doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và lưu trú, (2) Hướng dẫn viên du lịch thực địa, (3) Lãnh đạo Hiệp hội Du lịch Việt Nam và Hiệp hội Du lịch Hà Nội, (4) Giảng viên chuyên ngành du lịch tại các trường đại học, và (5) Cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm tiếp cận những cá nhân có chuyên môn sâu, nắm bắt các rào cản thể chế thực tế.

Đồng thời, luận văn sử dụng kết quả khảo sát từ 1.500 khách du lịch quốc tế tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh do Tổng cục Thống kê thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng (stratified random sampling). Phương pháp phân tích cụm ngành được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc bóc tách các mối liên kết dọc và ngang, phát hiện những điểm nghẽn thể chế thay vì chỉ đánh giá các chỉ số tài chính vi mô đơn lẻ.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên du lịch nhân văn là lợi thế cạnh tranh lớn nhất nhưng chưa được thương mại hóa hiệu quả. Kết quả khảo sát 1.500 khách quốc tế cho thấy có 53,8% du khách (807 người) quyết định đến Hà Nội vì sức hấp dẫn của tài nguyên lịch sử, văn hóa. Tuy nhiên, thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế chỉ đạt 3,8 ngày và mức chi tiêu đạt 115 USD/ngày, thấp hơn rõ rệt so với Băng Cốc (4,86 ngày và 144 USD/ngày). Trong cơ cấu chi tiêu của khách quốc tế tại Hà Nội, tiền thuê phòng chiếm tỷ trọng cao nhất với 32%, tiếp đến là chi phí ăn uống và đi lại. Đối với khách nội địa, mức chi tiêu chỉ đạt khoảng 1.000.000 đồng/ngày khách với thời gian lưu lại khiêm tốn 1,6 ngày (trong khi tại Băng Cốc là 3,35 ngày với chi tiêu 2.100.000 đồng/ngày).

Thứ hai, hạ tầng kỹ thuật và môi trường xã hội bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Có 39% khách du lịch quốc tế cho rằng mức độ an toàn giao thông không cao là yếu tố gây thất vọng lớn nhất. Chỉ có 7,5% du khách (113/1.500 người) đánh giá phương tiện vận chuyển đi lại tại Hà Nội thuận tiện, thấp hơn mức 11,9% tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tỷ lệ du khách có ấn tượng tốt về chất lượng dịch vụ du lịch tại Hà Nội chỉ đạt hơn 20%, kém xa mức trên 50% của Thành phố Hồ Chí Minh. Tình trạng chèo kéo, gian lận cước taxi (với hơn 1.100 trường hợp bị xử phạt trong quý I/2015) và vệ sinh môi trường tại các điểm tham quan làm suy giảm nghiêm trọng hình ảnh điểm đến.

Thứ ba, sự thiếu liên kết trong cụm ngành và rào cản chính sách làm suy giảm động lực doanh nghiệp. Trong số 1.600 doanh nghiệp lữ hành (gồm gần 700 đơn vị lữ hành quốc tế), đại đa số có quy mô dưới 30 lao động, thiếu bộ phận nghiên cứu phát triển sản phẩm, chủ yếu sao chép tour và cạnh tranh tiêu cực bằng giá. Quy định hành chính cứng nhắc như tiền ký quỹ từ 250 đến 500 triệu đồng hay yêu cầu bằng đại học đối với hướng dẫn viên các thứ tiếng hiếm đã tạo ra rào cản gia nhập ngành không cần thiết.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm chỉ rõ chính sách phát triển du lịch của Hà Nội trong giai đoạn nghiên cứu mang nặng tính "hướng cung" và can thiệp hành chính. Thành phố đã phê duyệt quy hoạch đến năm 2030 với dự kiến 9,5 tỷ USD đầu tư vào 14.000 ha đất dành cho khu vui chơi, sân gôn và nghỉ dưỡng ngoại ô, trong khi chỉ có dưới 10 sân gôn hoạt động hiệu quả trong toàn vùng phụ cận. Sự lệch pha này khiến các giá trị văn hóa cốt lõi tại 272 làng nghề truyền thống và khu phố cổ không nhận được nguồn lực bảo tồn tương xứng.

Để trực quan hóa các dữ liệu này, kết quả nghiên cứu có thể được biểu diễn qua biểu đồ cột so sánh tương quan giữa Hà Nội và Băng Cốc về 4 chỉ tiêu: số lượt khách quốc tế (3 triệu so với hơn 15 triệu), số lượng buồng phòng lưu trú (25.532 phòng so với 96.992 phòng), số ngày lưu trú trung bình và mức chi tiêu bình quân mỗi ngày. Bên cạnh đó, bảng phân tích ma trận kim cương phản ánh trực quan sự đứt gãy giữa cơ quan quản lý, các hiệp hội du lịch và khối doanh nghiệp tư nhân, giải thích nguyên nhân chỉ số PCI của Hà Nội từng giảm 15 bậc xuống vị trí 51/63 vào năm 2012.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của cụm ngành du lịch Hà Nội, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

  1. Tái cấu trúc phân bổ nguồn vốn đầu tư công và ưu tiên bảo tồn di sản nội đô (Chủ thể: Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội): Chuyển dịch tối thiểu 40% ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch từ các dự án nghỉ dưỡng ngoại thành sang việc tôn tạo 1.050 di tích cấp quốc gia, chỉnh trang không gian đi bộ khu phố cổ và cải thiện hệ thống vệ sinh công cộng. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ hài lòng của du khách về không gian di sản lên trên 75% trong giai đoạn 2016 - 2020.

  2. Cắt giảm rào cản hành chính và hoàn thiện môi trường kinh doanh (Chủ thể: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Sở Du lịch Hà Nội): Kiến nghị sửa đổi quy định Luật Du lịch, bãi bỏ hoặc giảm 50% mức ký quỹ 250 - 500 triệu đồng đối với doanh nghiệp lữ hành quốc tế; công nhận chứng chỉ nghiệp vụ và kỹ năng thực tế thay vì bắt buộc bằng đại học đối với hướng dẫn viên tiếng hiếm (tiếng Ý, Tây Ban Nha, Thái Lan) nhằm bổ sung 300 hướng dẫn viên đạt chuẩn trước năm 2018.

  3. Chuẩn hóa nguồn nhân lực và thiết lập môi trường du lịch an toàn (Chủ thể: Hiệp hội Du lịch Hà Nội và các cơ sở đào tạo nghề): Tổ chức các khóa đào tạo thực hành định kỳ cho 81.141 lao động trong ngành; đồng thời phối hợp với lực lượng công an thành phố xử lý triệt để 100% các vi phạm về gian lận taxi, chèo kéo khách, giảm tỷ lệ phản ánh tiêu cực về an toàn giao thông từ 39% xuống dưới 15% vào năm 2020.

  4. Đổi mới xúc tiến điểm đến và xây dựng liên kết chuỗi giá trị vùng (Chủ thể: Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại, Du lịch Hà Nội): Tăng ngân sách xúc tiến du lịch quốc tế thêm 30% hàng năm, đẩy mạnh tiếp thị số; liên kết chặt chẽ với các tỉnh Quảng Ninh, Ninh Bình và Lào Cai để hình thành chuỗi sản phẩm liên vùng hoàn chỉnh, phấn đấu nâng thời gian lưu trú bình quân của khách quốc tế từ 3,8 ngày lên 4,5 ngày và nâng mức chi tiêu lên 135 USD/ngày vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo các Sở Du lịch, Trung tâm Xúc tiến Đầu tư và cơ quan quản lý đô thị có thể sử dụng các chỉ số thực chứng về chi tiêu (115 USD/ngày), thời gian lưu trú (3,8 ngày) và ma trận kim cương để rà soát quy hoạch tổng thể, điều chỉnh chính sách cấp phép kinh doanh và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

  2. Ban lãnh đạo các doanh nghiệp lữ hành và khách sạn: Các nhà quản trị có thể khai thác dữ liệu về cơ cấu chi tiêu (thuê phòng chiếm 32%) và hành vi của 1.500 du khách để tái định vị sản phẩm, phát triển các tour chuyên đề văn hóa thay vì cạnh tranh giảm giá đơn thuần, đồng thời tối ưu hóa công suất phòng lưu trú.

  3. Các hiệp hội ngành nghề và tổ chức quốc tế: Hiệp hội Du lịch và các dự án phát triển kỹ năng nghề có thể vận dụng phát hiện về 81.141 lao động du lịch để thiết kế các chương trình đào tạo nghiệp vụ sát thực tiễn, thúc đẩy cơ chế phối hợp công - tư hiệu quả.

  4. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học: Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực về việc ứng dụng lý thuyết cụm ngành của Michael Porter vào ngành dịch vụ tại Việt Nam, cung cấp phương pháp luận vững chắc cho các đề tài nghiên cứu kinh tế ngành và chính sách công tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao Hà Nội có tài nguyên văn hóa phong phú nhưng lượng khách quốc tế chỉ bằng 1/7 so với Băng Cốc? Hà Nội sở hữu 5.175 di tích lịch sử nhưng sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, thiếu các hoạt động vui chơi giải trí về đêm và dịch vụ phụ trợ. Hệ thống cơ sở lưu trú của Hà Nội chỉ có 25.532 phòng so với 96.992 phòng của Băng Cốc, cộng thêm 39% du khách phàn nàn về an toàn giao thông khiến thời gian lưu trú bị rút ngắn.

  2. Lý thuyết cụm ngành của Michael Porter được vận dụng thế nào trong phân tích du lịch Hà Nội? Nghiên cứu sử dụng Mô hình Kim cương để phân tích 4 trụ cột: điều kiện đầu vào (tài nguyên nhân văn, 81.141 lao động), điều kiện cầu (13,99 triệu khách nội địa, 2,581 triệu khách quốc tế), các ngành bổ trợ (1.751 cơ sở lưu trú, 33.984 nhà hàng) và chiến lược cạnh tranh của 1.600 công ty lữ hành để chỉ ra các điểm nghẽn thể chế.

  3. Những rào cản pháp lý nào đang cản trở hoạt động của doanh nghiệp lữ hành và hướng dẫn viên? Quy định ký quỹ bắt buộc từ 250 triệu đến 500 triệu đồng theo Luật Du lịch 2005 tạo gánh nặng vốn lớn cho doanh nghiệp mới. Bên cạnh đó, điều kiện bắt buộc có bằng đại học để cấp thẻ hướng dẫn viên quốc tế gây ra sự thiếu hụt nghiêm trọng hướng dẫn viên các ngôn ngữ hiếm như tiếng Ý hay Tây Ban Nha.

  4. Sự mất cân đối trong chiến lược đầu tư du lịch của Hà Nội thể hiện qua những số liệu nào? Thành phố đã phê duyệt hơn 5.000 ha đất với quy mô vốn trên 12 tỷ USD cho các dự án sân gôn, bất động sản nghỉ dưỡng ngoại ô có tiến độ triển khai rất chậm. Ngược lại, nguồn ngân sách đầu tư bảo tồn 1.050 di tích quốc gia và hạ tầng phục vụ du khách tại khu vực nội đô lại rất hạn chế.

  5. Giải pháp nào giúp nâng mức chi tiêu của du khách quốc tế vượt mức 115 USD/ngày? Thành phố cần quy hoạch đồng bộ các tuyến phố ẩm thực đêm, chuẩn hóa hoạt động mua sắm tại 272 làng nghề thủ công như Bát Tràng và Vạn Phúc, phát triển các tour du lịch văn hóa cao cấp và nâng cao tỷ lệ hài lòng dịch vụ từ mức 20% lên trên 50% để kích thích du khách chi tiêu.

Kết luận

  • Hà Nội sở hữu tài nguyên nhân văn phong phú với 5.175 di tích lịch sử và 2 di sản thế giới nhưng chưa phát huy hết tiềm năng do chính sách đầu tư dàn trải.
  • Mô hình kim cương chỉ ra các điểm nghẽn lớn về an toàn giao thông (39% khách phản ánh), thiếu hụt dịch vụ giải trí và rào cản ký quỹ 250 - 500 triệu đồng.
  • Năng lực cạnh tranh của cụm ngành thua kém rõ rệt so với Băng Cốc về lượng khách quốc tế (thấp hơn 7 lần), số lượng buồng phòng (25.532 so với 96.992) và mức chi tiêu bình quân.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ: tái cơ cấu vốn đầu tư công, cắt giảm thủ tục hành chính, đào tạo 81.141 lao động và đẩy mạnh liên kết vùng trong giai đoạn 2016 - 2020.
  • Luận văn đóng góp khung phân tích khoa học giúp chuyển đổi mô hình tăng trưởng du lịch Thủ đô từ chiều rộng sang chiều sâu và nâng cao năng suất cụm ngành.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là làm sáng tỏ bản chất các khiếm khuyết trong chính sách phát triển du lịch Hà Nội dưới lăng kính kinh tế học cụm ngành hiện đại. Lộ trình cải cách cần được chính quyền thành phố và các bên liên quan thực thi ngay trong giai đoạn 2016 - 2020 để tạo bước đột phá về chất lượng dịch vụ. Các nhà quản lý, doanh nghiệp lữ hành và nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn tài liệu để áp dụng những giải pháp thiết thực này vào thực tiễn quản trị và hoạch định chính sách du lịch!