CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Bối cảnh nghiên cứu Đồng Nai là địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng heo. Năm 2015, số heo nuôi tại Đồng Nai là 1.900 con, chiếm 50% số lượng heo nuôi ở khu vực Đông Nam Bộ, và 6% số lượng heo nuôi cả nước so với Hà Nội: 1.300con, Thái Bình: 1.200con, Bắc Giang: 1.1 - Tỷ trọng số heo Đồng Nai so với khu vực và cả nước Hin Ngành chăn nuôi heo Đồng Nai không chỉ góp phần tăng trưởng kinh tế mà còn đóng vai trò quan trong đối với đời sống người dân các khu vực có mật độ chăn nuôi cao. Chăn nuôi heo đóng góp ổn định vào tăng trưởng GDP của Đồng Nai, đóng góp 26.7% vào GDP nông nghiệp của Đồng Nai đạt giá trị 9. Tỷ lệ bình quân số heo nuôi/người của Đồng Nai là 0,48 heo/người cao gần gấp đôi bình quân cả nước là 0,28 heo/người.
Tại một số huyện, tỷ lệ này lớn hơn 1, nhiều xã có tỷ lệ này lớn hơn 2, tức gấp gần 10 lần mức bình quân cả nước.267- 179) Khuynh hướng tiêu thụ thịt chế biến, thịt đóng gói có nhãn hiệu ngày càng tăng ở nhiều nước trên thế giới (Alberta.ca, 2016), nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành đã đầu tư vào lĩnh vực chế biến thực phẩm như Massan, CJ Vina,…nhưng dường như Đồng Nai vẫn còn TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 tập trung vào khâu chăn nuôi. Với tốc độ tăng trưởng khá cao, nhất là năm 2016, có thể nói Đồng Nai có sự tăng trưởng đàn heo vượt bậc ở mức 20% so với mức trung bình cả nước là 4,9% (Cục chăn nuôi, 2016). Tuy nhiên, cuối năm 2016, giá heo hơi bắt đầu lao dốc và giảm sâu kéo dài đến 6/2017, Đồng Nai chịu thiệt hại lớn khi giá heo giảm sâu nhất trong khu vực, mức giá thấp nhất là 22.2 - Giá heo hơi trang trại tại một số địa phương (01/2015-06/2017) Hin Bên cạnh đó, trong xu hướng phát triển chăn nuôi theo mô hình chăn nuôi theo chuỗi giá trị, ngành chăn nuôi heo không chỉ dừng lại ở khâu chăn nuôi mà đang dần mở rộng ra các khâu đầu và cuối chuỗi gái trị như khâu lai tạo giống, giết mổ chế biến và phân phối. Không chỉ Đồng Nai mà các địa phương lân cận cũng đang thu hút các khâu này.
Vậy trong tương quan với các địa phương khác thì Đồng Nai đang chiếm lĩnh các khâu nào? Và liệu khâu chăn nuôi lớn của Đồng Nai có thực sự mạnh? Liệu Đồng Nai có phải là “thủ phủ chăn nuôi heo” với sức cạnh tranh tốt như nhiều người ca ngợi? Hay mới chỉ tập trung tăng trưởng đàn heo mà thiếu liên kết trong chuỗi giá trị và hỗ trợ trong cụm ngành, để khi một cú sốc xảy ra thì dễ dàng bị tổn thương? Khi những điểm tựa để chăn nuôi heo Đồng Nai tăng trưởng nhanh thời gian qua, như nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc cao khiến giá heo tăng, hay thị trường trong nước tăng các yêu cầu khắt khe hơn về chất lượng. Thì ngành chăn nuôi heo Đồng Nai nên làm gì để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình? TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Câu hỏi nghiên cứu Những yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cụm ngành chăn nuôi heo tỉnh Đồng Nai? Cần thực hiện các chính sách gì để nâng cao năng lực cạnh tranh cụm ngành chăn nuôi heo Đồng Nai? 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu các tác nhân tham gia trong cụm ngành chăn nuôi heo trong phạm vi tỉnh Đồng Nai áp dụng khung phân tích năng lực cạnh tranh của M. Nghiên cứu tập trung phân tích hoạt động của các doanh nghiệp, hộ chăn nuôi trong cụm ngành, thị trường tiêu thụ và các chính sách quản lý của nhà nước. Đồng thời, Nghiên cứu thực hiện so sánh cụm ngành chăn nuôi heo Đồng Nai trong tương quan với các tỉnh thành lân cận có chung thị trường tiêu thụ chính là TP.4 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định tính, với thông tin và số liệu thu thập từ hai nguồn thứ cấp và sơ cấp.
Nguồn thông tin thứ cấp là từ số liệu được công bố trên các trang web chính thức và số liệu cung cấp trực tiếp của các cơ quan chức năng và các trang báo, nghiên cứu chuyên ngành. Nguồn thông tin sơ cấp được thu thập từ việc khảo sát, phỏng vấn các tác nhân trong cụm ngành chăn nuôi heo Đồng Nai (10 trang trại và hộ chăn nuôi, đại diện cơ quan nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp, đại lý thức ăn chăn nuôi, thương lái) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Lý thuyết cụm ngành và chuỗi giá trị Lý thuyết cụm ngành dựa trên khung phân tích năng lực cạnh tranh Mô hình kim cương của Michael E. Porter (2008) được sử dụng làm khung phân tích xuyên suốt bài viết. Cụm ngành là sự tập trung về mặt địa lý của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp có tính lên kết cũng như của các công ty trong các ngành có liên quan và các thể chế hỗ trợ trong một số lĩnh vực đặc thù, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau.
Sự phát triển của các cụm ngành cũng sẽ giúp tăng năng suất và hiệu quả hoạt động, thúc đẩy sự đổi mới sáng tạo và các quá trình thương mại hóa (Vũ Thành Tự Anh, 2012).1 - Sơ đồ mô hình kim cương Hin Nguồn: Vũ Thành Tự Anh, 2012 Trong mô hình kim cương với bốn đỉnh thể hiện các các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của cụm ngành. Thứ nhất, điều kiện các yếu tố đầu vào thể hiện lợi thế hay bất lợi của việc tiếp cận các yếu tố đầu vào sản xuất chất lượng cao, góp phần quyết định khả năng giảm chi phí, tăng năng suất và chất lượng so với các đối thủ. Thứ hai, các yếu tố điều kiện cầu thể hiện mức độ khắt khe và nhu cầu của thị trường tiêu thụ; thị trường có nhu cầu lớn và mức độ khắt khe cao là động lực để các doanh nghiệp trong ngành không ngừng đổi mới, đáp ứng nhu cầu và dần nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Thứ ba, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp; những điều kiện khuyến khích cạnh tranh và mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành sẽ thúc đẩy hình thành, thu hút các doanh nghiệp có sức cạnh tranh.
Thứ tư, các ngành phụ trợ và công nghiệp liên quan; sự có mặt, mức độ phát triển và liên kết giữa cụm ngành và các ngành liên quan góp phần hỗ trợ ngành tập trung chuyên môn hóa, giảm chi phí ở những khâu có thể liên kết với ngành khác. Bên cạnh đó, tiếp cận phân tích chuỗi giá trị của R.Moris (2001) cho cái nhìn rõ hơn về vị thế ngành chăn nuôi Đồng Nai trong mối tương quan với các tỉnh thành lân cận có liên hệ trong chuỗi giá trị. Chuỗi giá trị mô tả toàn bộ những hoạt động cần thiết để đưa một sản phẩm hay dịch vụ từ khái niệm, đi qua các công đoạn sản xuất và đưa đến người tiêu dùng sau cùng, và bố trí sau sử dụng (Đinh Công Khải, 2011, pp.2 Tổng quan các nghiên cứu trước Nguyễn Văn Giáp và các cộng sự (2015) trong nghiên cứu, “Thị trường chăn nuôi Việt Nam- Thay đổi cấu trúc để nâng cao cạnh tranh” đã khẳng định (i) ngành chăn nuôi của Việt Nam có mức độ phụ thuộc vào thị trường nước ngoài tăng dần, (ii) các hộ chăn nuôi nhỏ chịu nhiều rủi ro từ dịch bệnh, (iii) thị trường thức ăn chăn nuôi có dấu hiệu bị một số doanh nghiệp lớn chi phối, (iv) hệ thống giết mổ, phân phối thịt tạo thế độc quyền địa phương, (v) hệ thống thông tin bất cân xứng dẫn đến tình trạng chọn lựa ngược. Qua đó, các tác giả đề xuất quy hoạch chăn nuôi hoàn chỉnh cho cả nước hướng đến cung cấp thực phẩm sạch, kiểm soát độc quyền đối với thị trường TACN, và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP).
Các tác giả Lê Thị Mai Hương & Trần Văn Hùng (2015) trong nghiên cứu, “Ngành chăn nuôi trước thách thức Việt Nam gia nhập Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC)” đã nêu ra những kết luận chính: quy mô chăn nuôi nhỏ và thiếu bền vững; chất lượng heo giống kém dẫn đến năng suất thấp và chi phí sản xuất cao hơn; Thức ăn chăn nuôi chủ yếu do các doanh nghiệp FDI và nhập khẩu, giá cả thường xuyên biến động tăng, nguyên nhân sâu xa được cho là do trong nước không chủ động được nguồn nguyên liệu như ngô, đậu tương, dẫn đến phải phụ thuộc nguyên liệu ngoại nhập. Qua đó, các tác giả đề xuất quy hoạch ngành chăn nuôi, chú trọng công tác phòng chống dịch bệnh, thực hiện tốt khâu chọn giống, quy hoạch lại vùng nguyên liệu trong nước đáp ứng nhu cầu chăn nuôi, huấn luyện TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 kỹ năng cho người chăn nuôi, gia tăng liên kết giữa các doanh nghiệp và người chăn nuôi tạo thành chuỗi liên kết. Ngoài ra, cần có chính sách xây dựng thương hiệu và tìm kiếm thị trường. Viện nghiên cứu chính sách (Vietnam Center for Economic and Policy Research - VEPR, 2015) trong nghiên cứu “Tác động của TPP và AEC lên nền kinh tế Việt Nam.
Khía cạnh kinh tế vĩ mô và trường hợp ngành chăn nuôi”, khẳng định ngành chăn nuôi là ngành kém cạnh tranh, không bền vững và dễ chịu tác động xấu của các hiệp định thương mại. Sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu sẽ buộc ngành phải tái cấu trúc để tồn tại, một số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, kém hiệu quả sẽ buộc phải rời khỏi thị trường. Đồng thời, đề xuất đẩy nhanh các quy hoạch khu vực chăn nuôi và sản xuất, quy hoạch vật nuôi và phương pháp sản xuất theo chuỗi giá trị; Nên có chính sách thuế hỗ trợ mô hình chăn nuôi công nghệ cao, trang trại lớn với mô hình liên kết. Tiếp tục giảm diện tích trồng lúa và tăng diện tích trồng cây làm thức ăn chăn nuôi ở những khu vực thích hợp.
Đề xuất cần có các quy chuẩn về truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm ngành chăn nuôi. Lê Thị Mai Hương (2015) trong nghiên cứu, “Hiệu quả kinh tế của các trang trại chăn nuôi heo ở Đồng Nai”, xác định thu nhập bình quân của các doanh nghiệp FDI là 489.382 đồng/con, các hợp tác xã là 410.913 đồng/con, công ty cổ phần là 397.860 đồng/con, các hộ gia đình chỉ đạt 220. Trong khi đó, chi phí nuôi của doanh nghiệp FDI thấp nhất, các hộ chăn nuôi có chi phí nuôi cao nhất.