Nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

Chuyên khảo y tế phân tích Luận văn tmu nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của công ty cổ phần dược phẩm việt nam, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Trường đại học

Đại học Thương mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2013

64
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM LƯỢC

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Một số khái niệm có liên quan

1.2. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3. Khái niệm về cạnh tranh

1.4. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và bản chất của năng lực cạnh tranh (NLCT)

1.5. Khái niệm năng lực marketing và năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp

1.6. Một số lý thuyết liên quan về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm, năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp

1.7. Các nhân tố tạo lập năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp kinh doanh

1.8. Các nhân tố tạo lập NLCT của doanh nghiệp

1.9. Các nhân tố tạo lập NLCT marketing của doanh nghiệp

1.10. Tổng quan về tình hình nghiên cứu về các đề tài liên quan đến nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp

1.11. Mô hình nội dung nghiên cứu của đề tài nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của công ty

1.12. Mô hình nghiên cứu đề tài

1.13. Mô hình nghiên cứu hệ tham số xác định năng lực cạnh tranh marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG NLCT MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM VIỆT NAM

2.1. Giới thiệu về Công ty cổ phẩn dược phẩm Việt Nam

2.2. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

2.3. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty

2.4. Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp

2.5. Phương pháp nghiên cứu thực trạng NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

2.6. Phương pháp thu thập dữ liệu

2.7. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp

2.8. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp

2.9. Phương pháp xử lí dữ liệu

2.10. Phương pháp xử lí dữ liệu sơ cấp

2.11. Phương pháp xử lí dữ liệu thứ cấp

2.12. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

2.13. Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường bên ngoài doanh nghiệp

2.14. Ảnh hưởng của các nhân tố thuộc môi trường bên trong doanh nghiệp

2.15. Các nhân tố thuộc môi trường ngành

2.16. Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

2.17. Thực trạng năng lực cạnh tranh marketing của công ty cổ phẩn dược phẩm Việt Nam qua kết quả xử lí dữ liệu thứ cấp

2.18. Thực trạng năng lực sản phẩm

2.19. Thực trạng giá sản phẩm

2.20. Thực trạng kênh phân phối

2.21. Thực trạng hoạt động truyền thông, xúc tiến

2.22. Bảng tổng hợp đánh giá xếp loại các tiêu chí NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam trong đối sánh với đối thủ cạnh tranh

3. CHƯƠNG 3: CÁC KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT VỚI VẤN ĐỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH MARKETING CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC PHẨM VIỆT NAM

3.1. Các kết luận về thực trạng NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

3.2. Các kết quả đạt được

3.3. Những hạn chế còn tồn tại trong việc nâng cao NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

3.4. Những nguyên nhân của các hạn chế còn tồn tại trong quá trình nâng cao NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

3.5. Nguyên nhân chủ quan

3.6. Các dự báo thay đổi môi trường kinh doanh và định hướng phát triển của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

3.7. Dự báo tình hình trong thời gian tới

3.8. Định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới

3.9. Các đề xuất, kiến nghị với vấn đề nâng cao NLCT marketing của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

3.10. Các giải pháp đề xuất để nâng cao NLCT marketing của công ty

3.11. Giải pháp nâng cao năng lực tài chính

3.12. Giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xúc tiến thương mại

3.13. Đề xuất giải pháp mở rộng mạng lưới phân phối sản phẩm

3.14. Giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ chăm sóc khách hàng

3.15. Các giải pháp khác

3.16. Bảng kì vọng NLCT marketing tổng hợp của công ty cổ phần dược phẩm Việt Nam

3.17. Một số kiến nghị vĩ mô đối với nhà nước

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao năng lực cạnh tranh marketing cho công ty dược phẩm Việt Nam

Nâng cao năng lực cạnh tranh marketing là một yếu tố sống còn cho sự phát triển bền vững của các công ty dược phẩm tại Việt Nam. Trong bối cảnh thị trường ngày càng cạnh tranh, việc áp dụng các chiến lược marketing hiệu quả là cần thiết để thu hút và giữ chân khách hàng. Các công ty cần phải hiểu rõ về thị trường, đối thủ cạnh tranh và nhu cầu của khách hàng để có thể phát triển các sản phẩm phù hợp.

1.1. Định nghĩa năng lực cạnh tranh marketing trong ngành dược phẩm

Năng lực cạnh tranh marketing trong ngành dược phẩm được hiểu là khả năng của công ty trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng thông qua các chiến lược marketing hiệu quả. Điều này bao gồm việc phát triển sản phẩm, định giá, phân phối và xúc tiến thương mại.

1.2. Tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh marketing

Năng lực cạnh tranh marketing không chỉ giúp công ty tăng trưởng doanh thu mà còn nâng cao uy tín thương hiệu. Việc xây dựng một thương hiệu mạnh sẽ giúp công ty dễ dàng hơn trong việc thâm nhập vào các thị trường mới và giữ vững vị thế trên thị trường hiện tại.

II. Các thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh marketing

Ngành dược phẩm Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh marketing. Sự gia tăng của các đối thủ cạnh tranh, sự thay đổi nhanh chóng của nhu cầu thị trường và các quy định pháp lý khắt khe là những yếu tố cần được xem xét. Các công ty cần phải có những chiến lược linh hoạt để thích ứng với những thay đổi này.

2.1. Sự gia tăng cạnh tranh từ các công ty nước ngoài

Sự gia nhập của các công ty dược phẩm nước ngoài với sản phẩm chất lượng cao và giá cả cạnh tranh đã tạo ra áp lực lớn cho các công ty trong nước. Điều này đòi hỏi các công ty Việt Nam phải cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình.

2.2. Thay đổi trong nhu cầu và hành vi của người tiêu dùng

Người tiêu dùng ngày càng trở nên thông thái và có nhiều lựa chọn hơn. Họ không chỉ quan tâm đến giá cả mà còn đến chất lượng và nguồn gốc sản phẩm. Các công ty cần phải nghiên cứu và hiểu rõ nhu cầu của khách hàng để có thể đáp ứng kịp thời.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh marketing hiệu quả

Để nâng cao năng lực cạnh tranh marketing, các công ty dược phẩm cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Việc tối ưu hóa chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến thương mại là rất quan trọng. Các công ty cũng nên đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để tạo ra những sản phẩm mới và cải tiến sản phẩm hiện có.

3.1. Tối ưu hóa chiến lược sản phẩm

Công ty cần phát triển các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường và có tính cạnh tranh cao. Việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới là rất quan trọng để giữ vững vị thế trên thị trường.

3.2. Định giá và phân phối hợp lý

Định giá sản phẩm cần phải hợp lý và cạnh tranh. Đồng thời, việc xây dựng mạng lưới phân phối hiệu quả sẽ giúp sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh chóng và thuận tiện.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng các công ty dược phẩm Việt Nam đã có những bước tiến trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh marketing. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Việc áp dụng các chiến lược marketing hiệu quả đã giúp một số công ty gia tăng thị phần và doanh thu.

4.1. Các công ty điển hình trong ngành dược phẩm

Một số công ty như Công ty TNHH Friesland Campina và Công ty TNHH Nestle đã áp dụng thành công các chiến lược marketing hiệu quả, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường.

4.2. Kết quả từ các nghiên cứu thị trường

Các nghiên cứu thị trường cho thấy rằng người tiêu dùng ngày càng ưu tiên các sản phẩm có chất lượng cao và dịch vụ chăm sóc khách hàng tốt. Điều này đã thúc đẩy các công ty dược phẩm cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho ngành dược phẩm

Nâng cao năng lực cạnh tranh marketing là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết cho các công ty dược phẩm Việt Nam. Trong tương lai, các công ty cần tiếp tục cải tiến và đổi mới để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Việc đầu tư vào công nghệ và nghiên cứu phát triển sẽ là chìa khóa để thành công.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Các công ty cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, không chỉ tập trung vào lợi nhuận mà còn chú trọng đến trách nhiệm xã hội và môi trường.

5.2. Tăng cường hợp tác và liên kết

Việc hợp tác với các tổ chức nghiên cứu và các công ty khác trong ngành sẽ giúp các công ty dược phẩm nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển sản phẩm mới.

27/07/2025
Luận văn tmu nâng cao năng lực cạnh tranh marketing của công ty cổ phần dược phẩm việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH MARKETING CỦA DOANH NGHIỆP 1.Một số khái niệm có liên quan 1. Một số khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Khái niệm về cạnh tranh. Khái niệm về cạnh tranh luôn có nhiều cách hiểu khác nhau, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế cạnh tranh lại được định nghĩa, được hiểu theo những quan điểm khác nhau.

Kinh tế học [3] định nghĩa “ Cạnh tranh là tranh giành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất. ( nguồn: http://bsm.vn, cập nhật ngày 20/3/2011). Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho.

Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition). nguồn: (http://bsm.vn, cập nhật ngày 20/3/2011). Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần.

Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980). Ngày nay thì cạnh tranh được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận và coi nó vừa là môi trường, vừa là động lực để thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Do vậy cạnh tranh được hiểu là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, mọi cách, cả nghệ thuật, thậm chí cả thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.

Kết quả của cạnh tranh là loại bỏ những đơn vị làm ăn kém hiệu quả và sự lớn mạnh của các công ty làm ăn có hiệu quả. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và bản chất của năng lực cạnh tranh ( NLCT). Khái niệm về NLCT được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985) : “ Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế.

Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”. Theo ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Porter (1990), năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên quan niệm này chưa gắn liền với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp. Theo bài giảng bộ môn quản trị chiến lược của trường đại học thương mại năm 2011 thì năng lực cạnh tranh là năng lực mà doanh nghiệp thực hiện đặc biệt tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Đó là những lợi thế mà các đối thủ cạnh tranh không dễ dàng thích ứng hoặc sao chép, bao gồm năng lực cạnh tranh marketing và năng lực cạnh tranh phi marketing. SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa Tuy nhiên khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay chưa được hiểu một cách thống nhất,trong phạm vi nghiên cứu đề tài thì có thể hiểu năng lực cạnh tranh như sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.

Như vậy theo cách hiểu này thì bản chất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện qua các yếu tố sau: - Lượng thị phần trên thị trường hiện tại - Lượng lợi nhuận mà công ty thu được. - Năng suất lao động cao hơn đối thủ cạnh tranh. - Chất lượng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh. - Khả năng phát triển bền vững của doanh nghiệp Từ những cách hiểu về NLCT như trên thì ta thấy được rằng việc nâng cao NLCT của doanh nghiệp là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự sống còn của doanh nghiệp.

Khái niệm năng lực marketing và năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp. Theo Christine Ennew và Nigel Waite trong “Financial Services Marketing: An international guilde to principles and practice” định nghĩa “Năng lực marketing là những kĩ năng và tính chất marketing cần thiết để có thể thực hiện hoạt động kinh doanh trong một ngành kinh doanh nào đó. Năng lực này hiện diện trong hầu hết các doanh nghiệp, các ngành hàng- do nếu không có thì họ không thể thực hiện được hoạt động kinh doanh”. Điểm then chốt trong phân tích năng lực marketing chính là khả năng nhận dạng được những năng lực mà một doanh nghiệp hay một tổ chức được nhận thấy là đạt hiệu quả hơn các đối thủ cạnh tranh- đó là năng lực cốt lõi hay là năng lực khác biệt là cơ sở cho việc cung ứng các giá trị cao cho khách hàng so với đối thủ cạnh tranh và do đó tạo ra lợi thế cạnh tranh.

Một năng lực cốt lõi thường có được khi có sự kết hợp giữa nguồn lực và năng lực có giá trị trong mối quan hệ với một thị trường hay một phân đoạn thị trường nhất định. Đi vào tìm hiểu khái niệm NLCT marketing của doanh nghiệp thì có những tài liệu cho rằng: NLCT marketing của doanh nghiệp là khả năng kết hợp các nguồn lực marketing của doanh nghiệp với nhau và khả năng thúc đẩy việc sử dụng các nguồn lực này một cách hiệu quả trên thị trường trong đáp ứng nhu cầu khách hàng của doanh nghiệp. SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 8 GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa Còn theo bài giảng quản trị chiến lược, thuộc bộ môn quản trị chiến lược, khoa quản trị doanh nghiệp, trường ĐHTM thì “ Năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp là tất cả năng lực marketing( năng lực cạnh tranh hiển thị) của doanh nghiệp” như: năng lực xúc tiến, phân phối, năng lực về chất lượng, giá cả sản phẩm, …” Từ những khái niệm trên, ta có thể rút ra được ý nghĩa của việc nâng cao NLCT marketing trong nâng cao NLCT của doanh nghiệp: Nâng cao NLCT marketing là bộ phận cấu thành trọng yếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nên việc nghiên cứu góp phần tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường thực sự gay gắt để từ đó khẳng định sự tồn tại và vị thế của doanh nghiệp. Một số lý thuyết liên quan về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm, năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp.

Tiếp cận theo quan điểm năng lực cạnh tranh cấp ngành, cấp công ty của M.Porter( Micheal E Porter -2008, “Lợi thế cạnh tranh”- NXB trẻ) thì quan điểm này dựa trên quản trị chiến lược phản ánh trong cuốn sách của M.Porter, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực chiếm lĩnh thị trường, tiêu thụ các sản phẩm cùng loại của công ty đó. Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa trình bày trong bài viết “Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế doanh nghiệp” đăng trên tạp chí khoa học của trường đại học thương mại hà nội thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và năng lực cạnh tranh của sản phẩm nói riêng được hiểu là tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm đó trong mối liên hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định. Để đánh giá năng lực cạnh tranh một sản phẩm người ta thường sử dụng các tiêu chí để có thể lượng hóa trong tương quan so sánh với các đối thủ cạnh tranh. Việc nghiên cứu các tiêu chí này tập trung trên hai lĩnh vực hoạt động chính là năng lực cạnh tranh nguồn và năng lực cạnh tranh marketing”.

Như vậy để có thể nâng cao được khả năng cạnh tranh marketing của doanh nghiệp cần phải nâng cao cả năng lực cạnh tranh nguồn của doanh nghiệp. Dựa vào phương pháp luận của GS.TS Nguyễn Bách Khoa và dựa trên đặc thù kinh doanh của công ty, khóa luận xây dựng các nhân tố tạo lập năng lực cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh marketing nói riêng cho sản phẩm sữa bột SVTH: Cao Thị Thắm Lớp: K7 - HQ1A2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp 9 GVHD: GS.TS Nguyễn Bách Khoa Physiolac giành cho trẻ 0 tới 3 tuổi của tập đoàn Gilbert Pháp, là sản phẩm kinh doanh chủ yếu của công ty. Các nhân tố tạo lập năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh marketing của doanh nghiệp kinh doanh 1. Các nhân tố tạo lập NLCT của doanh nghiệp Đối với một doanh nghiệp để tạo lập được NLCT của doanh nghiệp mình thì doanh nghiệp cần phải xây dựng được rất nhiều các yếu tố khác nhau, các nhân tố đó phải kể đến là: Thứ nhất: Năng lực sản xuất và tác nghiệp của doanh nghiệp.

Năng lực sản xuất và tác nghiệp của doanh nghiệp được thể hiện qua năng suất lao động, quy mô kinh doanh, chi phí sản xuất kinh doanh, công nghệ và dây chuyền sản xuất. Trong đó chi phí sản xuất kinh doanh thể hiện rõ nét nhất NLCT của doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ