Chương 1:Tổng quan về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam sang thị trường EU và Nhật Bản. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt nam trên thị trường EU và Nhật Bản. Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt nam trên thị trường EU và Nhật Bản. -5- TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU VÀ NHẬT BẢN 1.
Tổng quan về năng lực canh tranh của sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm 1. Định nghĩa năng lực cạnh tranh của sản phẩm Ngày nay, để một hàng hoá có thể tồn tại được trong môi trường cạnh tranh quốc tế, sản phẩm đó nhất định phải mang một hoặc nhiều tính ưu việt hơn các sản phẩm khác, hay nói cách khác sản phẩm đó phải có năng lực cạnh tranh. Năng lực canh tranh của sản phẩm hay sức cạnh tranh, hoặc còn gọi là khả năng cạnh tranh của sản phẩm chính là yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại của sản phẩm trên thị trường, đặc biệt là thị trường thế giới.
Sản phẩm có sức cạnh tranh chính là sản phẩm có thể đứng vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay mức giá cân bằng. Sản phẩm có sức cạnh tranh sẽ tạo được mặt vượt trội về chất lượng, giá cả và cơ chế vận hành của nó trên thị trường, tạo nên sức hấp dẫn của sản phẩm với khách hàng trong quá trình sử dụng. Vậy như thế nào là năng lực cạnh tranh của sản phẩm? Xét một cách tổng thể thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì … vượt trội so với những sản phẩm cùng loại. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Thị phần -6- Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh.
Cũng có định nghĩa cho rằng thị phần là phần lượng cầu của thị trường đối với hàng hoá của doanh nghiệp trong dung lượng thị trường. Trên thị trường quốc tế, thị phần là phần thị trường tiêu thụ một loại sản phẩm mà một quốc gia chiếm lĩnh. Ngày nay, cuộc tranh giành thị phần giữa các doanh nghiệp và giữa các quốc gia với nhau trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Chính điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển đa dạng và người tiêu dùng có quyền lựa chọn các sản phẩm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của họ với giá cả hợp lý.
Về mặt định tính, thị phần được tính bằng doanh số bán của doanh nghiệp chia cho tổng doanh số của thị trường hoặc số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp chia cho tổng số sản phẩm tiêu thụ của thị trường. Chất lượng Có thể nói, ngày nay chất lượng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm hàng hoá. Chất lượng của sản phẩm bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến các yếu tố đầu vào (nguyên liệu, phụ liệu), trình độ máy móc thiết bị, công nghệ, chế biến, trình độ tay nghề của đội ngũ nhân công. Một sản phẩm được coi là có chất lượng tốt không chỉ khi nó kết hợp được các nhân tố trên mà quan trọng nó phải thoả mãn được thị hiếu của người tiêu dùng.
Chất lượng của sản phẩm càng cao thì vòng đời sản phẩm càng dài hay nói cách khác là khoảng thời gian tồn tại của sản phẩm trên thị trường càng lâu. Giá cả Trên một thị trường, đối với một mặt hàng có chất lượng tương đối giống nhau, người tiêu dùng nhìn chung có xu hướng lựa chọn các sản phẩm có giá cả thấp hơn và như thế sản phẩm sẽ tiêu thụ được nhiều hơn. Rõ ràng, giá cả của sản phẩm là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự -7- thành bại của một doanh nghiệp trên thị trường, hay nói cách khác nó ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của hàng hoá. Vì thế, người ta sử dụng giá cả như một vũ khí cạnh tranh, trong đó các doanh nghiệp đều cố gắng tìm cách hạ giá thành sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh đến mức hợp lý nhất sao cho đáp ứng được khả năng chi trả của khách hàng mà vẫn đảm chất lượng sản phẩm và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Việc định giá sản phẩm cần tiến hành dựa trên cơ sở phân tích mức giá thị trường, giá của đối thủ cạnh tranh và chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn. Thêm vào đó, mỗi giai đoạn khác nhau trong vòng đời sản phẩm lại nên áp dụng một mức giá khác nhau cho phù hợp. Ngày nay, việc dùng giá cả như một vũ khí cạnh tranh có phần ít đi nhưng nó vẫn ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hàng hoá của người tiêu dùng. Vì thế, các doanh nghiệp cần phải tiết kiệm các nguồn lực đầu vào, sử dụng hợp lý các nhân tố khác trong quá trình kinh doanh và có chiến lược ổn định giá phù hợp để đưa ra được mức giá tối ưu.
Mẫu mã Mẫu mã của sản phẩm là hình thức bên ngoài của sản phẩm đó, là cái tác động trực tiếp vào cảm quan thẩm mỹ của khách hàng trước khi tiêu dùng sản phẩm. Nó thể hiện thông qua các yếu tố như hình dáng, màu sắc, kích thước… của sản phẩm. Càng ngày, mẫu mã sản phẩm càng có vai trò lớn trong quyết định mua hàng của khách hàng. Mẫu mã càng có tính thẩm mỹ cao, kích thích trí tò mò và tâm lý tiêu dùng của khách hàng càng được ưa chuộng và có lợi thế cạnh tranh.
Đặc biệt với những sản phẩm có tính thời trang và các sản phẩm thoả mãn trực tiếp từng người tiêu dùng như thực phẩm. Chính vì thế, khi đưa hàng hoá đến người tiêu dùng, các doanh nghiệp phải chú ý đến hình thức bên ngoài của sản phẩm mới. Thương hiệu -8- Khái niệm thương hiệu (tiếng Anh còn gọi là Trademark) ngày nay xuất hiện càng nhiều trên các phương tiện truyền thông, các diễn đàn kinh tế bởi vì thương hiệu cũng được xem là một tài sản quý giá của doanh nghiệp, tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Thương hiệu được định nghĩa là sự xác định riêng biệt của một sản phẩm hay dịch vụ dưới hình thức một tên gọi, từ ngữ, chữ số, tên người, tổ hợp màu sắc, châm ngôn, biểu tượng, hình tượng, dấu hiệu mà một nhà sản xuất dùng các biện pháp kỹ thuật thể hiện trên sản phẩm của mình khiến người ta phân biệt với sản phẩm khác.
Ngày nay, thương hiệu trở thành một đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ dưới hình thức “nhãn hiệu hàng hoá”. Thương hiệu cũng có khả năng làm cho khách hàng tin tưởng và tiêu thụ hàng hoá, bởi lẽ một hàng hoá có thương hiệu đã được xây dựng và kiểm chứng trên thị trường sẽ được phần lớn người tiêu dùng tin tưởng và sử dụng. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm 1.Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô Trình độ phát triển của nền kinh tế trong nước và các chính sách của chính phủ Trình độ phát triển của một quốc gia tất yếu có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng hoá quốc gia đó, trình độ phát triển quốc gia đó có sự ảnh hưởng như sau: - Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã hội tạo điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất. - Tài chính-tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh của một sản phẩm.
Ngoài ra, lãi suất tín dụng ảnh hưởng đến khả năng vay mượn của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm. - Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao khả năng cạnh tranh của -9- sản phẩm. Đây là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng sản xuất sản phẩm chủ lực. - Mở cửa thương mại nhất là việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan nhập khẩu đòi hỏi sự nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
- Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển các sản phẩm chủ lực. Tiến bộ kỹ thuật tác động quan trọng đến chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm hàng hoá. - Các chính sách vĩ mô trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ và huy động nguồn vốn tài chính cần thiết cho nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển các sản phẩm chủ lực. - Phát triển nguồn nhân lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
Bối cảnh và các mối quan hệ thương mại quốc tế Trong thời kỳ hội nhập, một quốc gia sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều trước sự biến động kinh tế của quốc gia khác, hay biến động của thị trường quốc tế do đó, bối cảnh và các mối quan hệ quốc tế sẽ tác động lớn đến năng lực cạnh tranh hàng hóa của một quốc gia: - Bối cảnh quốc tế (như xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang gia tăng trở thành đặc điểm mới nổi bật của nền kinh tế thế giới) sẽ đưa đến các mặt thuận lợi, những cơ hội cũng như những thách thức cho cạnh tranh của các sản phẩm. - Các hiệp định thương mại song phương đa phương, các tổ chức hợp tác phát triển, các khu vực thương mại tự do như AFTA, NAFTA trên thế giới ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá của các nước trong khối so với các nước ngoài khối.Các nhân tố thuộc môi trường vi mô - 10 - Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Rõ ràng, sản phẩm của một doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp khác ở các góc độ sau: - Quy mô của đối thủ cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh có quy mô lớn sẽ làm giảm chi phí, tạo ra giá cả sản phẩm thấp hơn sản phẩm của doanh nghiệp do đó đe dọa đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.