CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM 1.Khái niệm và các cấp độ năng lực cạnh tranh Khái niệm về năng lực cạnh tranh Cho tới nay, chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết "chuẩn" về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, hai hệ thống lý thuyết với hai phương pháp đánh giá được các quốc gia và các thiết chế kinh tế quốc tế sử dụng nhiều nhất là: Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) thiết lập trong bản Báo cáo cạnh tranh toàn cầu; Phương pháp thứ hai đo Viện Quốc tế về quản lý và phát triển (IMD) đề xuất trong cuốn niên giấm cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp này đều do các Giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jefftey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng. Theo cộng đồng cạnh tranh quốc gia (NCC), năng lực cạnh tranh là kh năng đạt được thành công trên thị trường trong việc nâng cao tiều chuẩn sồng hản mội người, bắt nguồn từ mức độ cạnh tranh của công ty và môi tường kinh đoanh cho phép và khuyến khích sự đổi mới, đầu tư góp phần mạnh mở vào việc tăng năng suất, tăng mức thu nhập thực tế và tạo nên sự phát triển bền vững.
Theo định nghĩa của OBCD, năng lực cạnh tranh biểu thị khả năng của mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành công nghiệp, mỗi khu vực, quốc gia hoặc các tổ chức xuyên quốc gia trong việc đương đầu với sự cạnh tranh trên trưởng quốc tế và đảm bảo tính bền vững của tỷ suất lợi nhuận trên yếu tố đầu vào và tỷ lệ tuyển dụng cao. Trong dài hạn, cải thiện năng lực cạnh tranh góp phần gia tăng tổng sản lượng. Nâng cao năng suất sản xuất giúp doanh nghiệp canh tranh thành công hơn trên thương trường, cải thiện chất lượng cuộc sống và tạo thêm nhiều việc làm về lâu dài. Ngoài ra, năng suất sản xuất cao còn phản ánh khả năng sử dụng hiệu quả các lợi thế cạnh tranh trong khi các nguồn lực tự nhiên ngày càng khan hiếm và tình hình cạnh tranh toàn cầu ngày càng trở nên khốc liệt hơn (Thống kê cấu trúc công nghiệp của OECD, 1994).
OECD còn nhấn mạnh rằng, năng lực cạnh tranh là khả năng sử dụng các yếu tố sản xuất nhằm tạo ra doanh thu cao và bền vững, việc tham gia vào môi trường cạnh tranh quốc tế góp phần mang lại tỷ lệ việc làm cao hơn (Toàn cầu hóa và năng lực cạnh tranh của OECD, 1996). Năng lực cạnh tranh thể hiện thực lực và lợi thế của chủ thể kinh doanh so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hòi của khách hàng để thu lợi 6 ngày càng cao hơn. Năng lực cạnh tranh phải so với đối thủ cạnh tranh cụ thể, sản phẩm hàng hóa cụ thể trên cùng thị trường và cùng thời gian. Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các cấp độ khác nhau, bao gồm năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hoặc dịch vụ.Các cấp độ của năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành bốn cấp độ: cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và cấp sản phẩm.
Có thể nói các cấp độ của năng lực cạnh tranh mặc dù có sự độc lập tương đối nhưng giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh vẫn tồn tại mối quan hệ qua lại mật thiết với nha. (1) Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu định nghĩa: Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao xác định sự thay đổi tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian. Ở cấp độ quốc gia, khái niệm năng lực cạnh tranh có ý nghĩa là năng suất sản xuất quốc gia. Năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia, bởi chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên.
Năng lực cạnh tranh không phải là việc một quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực gì để thịnh vượng mà là quốc gia đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực. Scott và Lodge (1985) định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng do một quốc gia tạo ra, sản xuất, phân phối các sản phẩm, dịch vụ trên thị trường quốc tế và thu được nguồn lợi tăng lên từ các nguồn lực của nó. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tiếp cận khái niệm này cụ thể hơn dựa trên các trụ cột của một quốc gia, "Năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính sách, quy định tạo nên mức sản lượng của một quốc gia. Nói cách khác, một nền kinh tế cạnh tranh thì có xu hướng có thể đem tới mức thu nhập cao hơn cho các công dân của mình, tỷ lệ tái đầu tư lớn hơn và do đó có thể phát triển nhanh hơn trong tương lai trung và dài hạn".
Năng lực cạnh tranh của một quốc gia sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nước đó. Vì vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia cũng tác động đến năng lực cạnh tranh ngành thông qua tác động đến các doanh nghiệp trong nước của ngành; thêm vào đó là tác động đến thu 7 hút đầu tư nước ngoài - thứ mà sau cùng cũng tác động đến năng lực cạnh tranh của những ngành thu hút được đầu tư nước ngoài. Theo Asia Development Outlook (2003), năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế, đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phổi sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiểm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEE), thì nănh tế cạnh tranh quốc gia được hiêu là "sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trường bền vững, thu hết đầu tt, bảo dàm ổn định kinh tế xã hội, nang cao đời sống người dân trên co sở xác dịnh các chính sách, thể chế bền vững tương đổi và các đặc trưng kinh tế khác". Năng lực này được đo bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nhà nước, vai trò của thị trường tài chính, mỗi trường công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lượng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh họat của thị trường lao động, môi trường pháp lý. (2) Năng lực cạnh tranh cấp ngành Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất. Năng lực cạnh tranh cấp ngành thường được dùng cho ngành sản xuất trong phạm vi một quốc gia, thể hiện khả năng của một ngành trong việc đương đầu với các thách thức phát sinh từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài (IMD, 2004).
Vì vậy, năng lực cạnh tranh ngành không chỉ được quyết định bởi các yếu tố nội tại của ngành, tức năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành, mà còn bởi các yếu tố từ chính phủ trong việc xây dựng môi trường kinh doanh, tức năng lực cạnh tranh quốc gia. (3) Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc khác biệt so với đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. 8 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiều là khả năng của doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất và cung cấp sản phẩm ưu việt hơn so với đối thủ khi đã tính đến yếu tố giá cả.
Porter (1990) khái quát hơn khi định nghĩa năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là khả năng của một doanh nghiệp nhất định cạnh tranh thành công trong một môi trường kinh doanh nhất định. Nguyễn Bách Khoa (2004) đã trình bày trong bài viết "Phương pháp luận xác định năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp" được đăng trên Tạp chí Khoa học thương mại của Trường Đại học Thương mại thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là "tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm của doanh nghiệp trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định". Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với các yếu tố về năng suất, sản phẩm, lợi thế cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của đoanh nghiệp được cấu thành và quyết định một phần bởi năng lực cạnh tranh của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất.
(4) Năng lực cạnh tranh của sản phẩm Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là lợi thế, ưu việt của sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để chiếm thị phần và lợi nhuận ngày càng cao hơn. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ cao thể hiện qua việc được sử dụng nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cung cấp loại sản phẩm, dịch vụ đó (Bùi Xuân Phong, 2003).