Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động M&A và thẩm định giá nhãn hiệu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Chương 5: Một số giải pháp.
123doc 4 CHƢƠNG 2. CƠ SỞ Ý UẬN VỀ HOẠT ĐỘNG M&A V THẨM ĐỊNH GIÁ NHÃN HIỆU. Tổng quan về nhãn hiệu 2. hái niệm nhãn hiệu Nhãn hiệu là một yếu tố đặc trưng gắn liền giữa thị trường thương mại và lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Nó đã được sử dụng trong một thời gian dài bởi các nhà sản xuất cũng như các thương nhân để xác định nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa hay dịch vụ của họ và phân biệt những hàng hóa, dịch vụ đó với các hàng hóa, dịch vụ được sản xuất hay bán bởi các chủ thể khác. Chức năng phân biệt nguồn gốc của hàng hóa hay dịch vụ luôn được xem là yếu tố quan trọng nhất của nhãn hiệu. Vì vậy nó luôn đóng vai trò trung tâm và được đề cập đến rất nhiều trong pháp luật về nhãn hiệu của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Nhãn hiệu có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau: Theo Davis Bainbridge, nhãn hiệu thông thường được định nghĩa bởi tòa án là nhãn mác, dấu hiệu hay biểu tượng, mà chức năng đầu tiên và cơ bản của chúng là để “xác định nguồn gốc hay quyền sở hữu đối với hàng hóa mang nó được gắn vào”.
Theo pháp luật nhãn hiệu EU, khái niệm nhãn hiệu được sử dụng thống nhất cho cả hàng hóa và dịch vụ. Theo đó “nhãn hiệu có thể bao gồm bất kỳ dấu hiệu nào có thể được trình bày một cách vật chất và riêng biệt dưới dạng từ ngữ, bao gồm tên riêng, các thiết kế, chữ cái, con số, hình dáng hay bao bì hàng hóa, có khả năng phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của một chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác”. Theo pháp luật của Việt Nam, nhãn hiệu được định nghĩa một cách khái quát tại khoản 16, Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ 50/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12 ngày 19 tháng 06 năm 2009) như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ 123doc 5 chức, cá nhân khác nhau”; Đồng thời tại điều 72 Luật cũng quy định: “Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình 3 chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc; Có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hóa, dịch vụ của chủ thể khác”. Tại Khoản 1 Điều 15 Hiệp định Các khía cạnh thương mại của Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS), nhãn hiệu được định nghĩa như sau: “Nhãn hiệu là bất kỳ một dấu hiệu, hoặc sự kết hợp của dấu hiệu có khả năng giúp phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa, dịch vụ của những doanh nghiệp khác.
Các dấu hiệu gồm các từ, kể cả tên riêng, chữ cái, chữ số, yếu tố hình và tổ hợp màu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu. Trường hợp bản thân các dấu hiệu không có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ tương ứng, các nước thành viên của Hiệp định có thể quy định rằng khả năng được đăng ký phụ thuộc vào tính phân biệt đạt được thông qua việc sử dụng”. Theo Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/9/2006 của Chính phủ về nhãn hàng hóa định nghĩa như sau "Nhãn hàng hoá là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá”. Ở góc độ chung nhất, nhãn hiệu có thể được hiểu là bất kỳ dấu hiệu nào có thể nhận biết được bao gồm từ ngữ, tên gọi, chữ cái, con số, biểu tượng, thiết kế, hình vẽ hay bất kỳ sự kết hợp nào của chúng và kiểu dáng hay bao bì hàng hóa được sử dụng hoặc sẽ được sử dụng trong thương mại để xác định và phân biệt hàng hóa hay dịch vụ của chủ thể này với hàng hóa hay dịch vụ của các chủ thể khác.
Như vậy, nhãn hiệu là một tài sản vô hình thuộc loại đối tượng sở hữu trí tuệ, thỏa mãn hai tiêu chí: 123doc 6 Phải là dấu hiệu dưới dạng chữ viết, con số, hình ảnh, màu sắc, hình khối (nhãn hiệu ba chiều), âm thanh, hình ảnh ba chiều, đoạn phim ngắn, thậm chí là mùi, vị. Dấu hiệu đó phải có khả năng thực hiện chức năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ. Phân loại nhãn hiệu Căn cứ vào tiêu chí khác nhau mà có nhiều cách phân loại nhãn hiệu. Xét từ góc độ đặc tính của dấu hiệu tạo nên nhãn hiệu, có thể chia nhãn hiệu thành 02 loại: Nhãn hiệu truyền thống: là nhãn hiệu bao gồm các dấu hiệu về chữ, số, màu sắc, hình ảnh hoặc là sự kết hợp của các yếu tố nói trên.
Nhãn hiệu phi truyền thống: là nhãn hiệu gồm các dấu hiệu về âm thanh, hình ảnh động, đoạn phim ngắn, ảnh ảo ba chiều, mùi, vị, một vật có khả năng phân biệt hoặc là sự kết hợp của các yếu tố trên. Xét từ góc độ chức năng của nhãn hiệu, ngƣời ta chia nhãn hiệu thành các loại: Nhãn hiệu thông thường. Nhãn hiệu tập thể: là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Nhãn hiệu chứng nhận: là nhãn hiệu mà chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuất xứ, nguyên liệu, vật liệu, cách thức sản xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.
Nhãn hiệu liên kết: là nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau. Chức năng của nhãn hiệu Nhãn hiệu là tài sản vô hình và có giá trị của doanh nghiệp. Trên thực tế, giá trị một nhãn hiệu có giá chuyển nhượng cao hơn rất nhiều so với giá trị tài sản hữu hình mà doanh nghiệp đang sở hữu. Nhãn hiệu là tài sản vô hình của doanh nghiệp, được tổng hợp từ nhiều yếu tố, thành quả mà doanh nghiệp tạo dựng trong suốt quá trình hoạt động.
Sự nổi tiếng của nhãn hiệu là đảm bảo cho lợi ích tiềm năng của doanh nghiệp. Một số chức năng quan trọng của nhãn hiệu, xét cả ở góc độ lịch sử, kinh tế và các điều kiện xã hội có thể chi phối đến quá trình hình thành và phát triển của nhãn hiệu. Các chức năng cơ bản đó bao gồm: Xác định nguồn gốc tự nhiên của hàng hóa và dịch vụ mang nhãn hiệu; Là sự đảm bảo cho nguồn gốc của hàng hóa và dịch vụ; Đảm bảo cho chất lượng của hàng hóa và dịch vụ; Được sử dụng như biểu tượng của chủ sở hữu nhãn hiệu; Được sử dụng như biểu tượng để quảng bá sản phẩm; Đôi khi được sử dụng như là đại diện cho phương châm sống của người tiêu dùng. Đặc điểm của nhãn hiệu Tính giá trị cảm nhận và chất lƣợng cảm nhận của nhãn hiệu: Giá trị cảm nhận của cùng một nhãn hiệu không phải bao giờ là một hằng số mà tùy theo cảm nhận chủ quan riêng của mỗi khách hàng.
Người tiêu dùng luôn chọn mua những sản phẩm dịch vụ mang lại giá trị cao nhất. Họ luôn suy xét giữa lợi ích nhận được và chi phí phải trả cho từng nhãn hiệu. Họ không hoàn toàn chọn nhãn hiệu có giá cả thấp nhất, khi những lợi ích mà nó mang lại không nhiều. Ngược lại, họ vui lòng chấp nhận giá cao để được những nhãn hiệu có uy tín.
Chất lượng cảm nhận là những cảm nhận, đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm dịch vụ theo 123doc 8 những tiêu chí riêng của họ, chẳng hạn như: độ tin cậy, chất lượng dịch vụ hỗ trợ, tính thẩm mỹ… Tính tƣơng đối của nhãn hiệu: Các tài sản hữu hình có thể thiết lập cơ chế bảo hộ tuyệt đối nhưng cơ chế bảo hộ cho nhãn hiệu chỉ mang tính tương đối. Tính vô hình của nhãn hiệu: Đặc tính vô hình của nhãn hiệu làm cho quyền chiếm hữu trở nên vô nghĩa vì khi thông tin đã được tiết lộ, người sở hữu thông tin đó không có biện pháp nào để ngăn cản người khác chiếm hữu thông tin đó, không thể thu hồi thông tin đã được người khác biết đến. Đối với tài sản hữu hình, pháp luật quy định quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt (quy định tại điều 164 Bộ Luật dân sự năm 2005). Đối với nhãn hiệu, chỉ điều chỉnh quyền sử dụng và quyền định đoạt.
Cơ sở lý luận về thẩm định giá nhãn hiệu 2. hái niệm thẩm định giá nhãn hiệu Theo trang Yellow Pencil, định giá nhãn hiệu là một quá trình tổng hợp và tính toán lợi nhuận kinh tế sinh ra từ giá trị nhãn hiệu có được từ việc sở hữu nhãn hiệu. Theo Interbrand, định giá nhãn hiệu là một quá trình lớn nhằm xác định giá trị hiện tại và giá trị tương lai của nhãn hiệu. Thẩm định giá nhãn hiệu là một nghệ thuật hay một khoa học về ước tính giá trị của nhãn hiệu phù hợp với thị trường tại một thời điểm nhất định, cho một mục đích nhất định theo những tiêu chuẩn được công nhận như những thông lệ quốc tế, hoặc quốc gia.
Như vậy, thẩm định giá nhãn hiệu là một quá trình tổng hợp và đo lường giá trị kinh tế của nhãn hiệu trong hiện tại và tương lai. Mục đích, ý nghĩa của việc thẩm định giá nhãn hiệu Việc thẩm định giá nhãn hiệu nhằm xác định giá trị của nhãn hiệu mà doanh nghiệp đang tạo dựng, đang sở hữu.