Tổng quan nghiên cứu

Năm 2013, ngành du lịch tỉnh Tây Ninh đón hơn 3,5 triệu lượt khách tham quan, trong đó riêng quần thể Khu du lịch Núi Bà Đen đã thu hút khoảng 2,4 triệu lượt. Sở hữu vị trí chiến lược thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với diện tích tự nhiên 4.032,61 km² cùng đường biên giới dài 240 km giáp Campuchia, Tây Ninh hội tụ tiềm năng to lớn để phát triển thành trung tâm du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử và tâm linh. Mặc dù khu vực dịch vụ chiếm tới 44,2% cơ cấu kinh tế của tỉnh vào năm 2012 với tốc độ tăng trưởng bình quân 21,5%/năm trong giai đoạn 2006 – 2012, song tỷ trọng đóng góp thực tế từ nguồn thu du lịch vào ngân sách địa phương vẫn ở mức khiêm tốn.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự mất cân đối rõ rệt giữa lượng du khách đông đảo và giá trị kinh tế thu về. Phần lớn du khách đến Tây Ninh chỉ tham quan trong ngày rồi quay về theo các tour ngắn hạn, khiến thời gian lưu trú bình quân và mức chi tiêu cá nhân đạt rất thấp. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài là ứng dụng lý thuyết cụm ngành và mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh để nhận diện thực trạng, phân tích các điểm nghẽn kìm hãm sự phát triển của cụm ngành du lịch Tây Ninh. Nghiên cứu bao quát phạm vi dữ liệu thứ cấp từ năm 2008 đến 2013 và khảo sát thực địa giai đoạn 2014 – 2015. Kết quả phân tích mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương và các doanh nghiệp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và gia tăng phúc lợi xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng đồng thời hai nền tảng lý thuyết kinh tế hiện đại của Michael Porter: Lý thuyết Năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua Mô hình Kim cương (Porter’s Diamond Model, 1990) được hiệu chỉnh phù hợp với cấp độ địa phương theo nghiên cứu của Vũ Thành Tự Anh (2011), cùng Lý thuyết Cụm ngành (Cluster Theory, 1998, 2008).

Khung lý thuyết tập trung vào các khái niệm trọng tâm:

  • Cụm ngành du lịch: Mạng lưới liên kết không gian địa lý giữa các doanh nghiệp lữ hành, dịch vụ lưu trú, ẩm thực, vận tải, điểm tham quan và các thể chế hỗ trợ, cùng hợp tác và cạnh tranh nhằm tối ưu hóa chuỗi giá trị.
  • Năng lực cạnh tranh địa phương: Khả năng của một tỉnh trong việc tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng cao năng suất các yếu tố tổng hợp và thu hút nguồn lực phát triển bền vững.
  • Điều kiện nhân tố đầu vào: Nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở hạ tầng giao thông, nguồn vốn đầu tư và chất lượng nguồn nhân lực.
  • Điều kiện cầu: Quy mô, tính chất, thời gian lưu trú, mức chi tiêu và hành vi tiêu dùng của du khách nội địa và quốc tế.
  • Các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan: Sự đồng bộ của hệ thống cung ứng dịch vụ phụ trợ, giao thông vận tải, logistics, thương mại và vai trò điều phối của các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh: Mức độ cạnh tranh lành mạnh, liên kết chuỗi và năng lực quản trị của các doanh nghiệp trong ngành.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả trên phần mềm SPSS. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Tổng cục Du lịch, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tây Ninh và Niên giám thống kê tỉnh giai đoạn 2008 – 2013.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích theo định ngạch (purposive quota sampling) với tổng quy mô 120 mẫu khảo sát. Cỡ mẫu phân bổ tại 6 điểm du lịch trọng điểm bao gồm: Khu du lịch Núi Bà Đen (20 mẫu), Khu du lịch Long Điền Sơn (20 mẫu), Khu du lịch Hồ Dầu Tiếng (20 mẫu), Khu Di tích Lịch sử Cách mạng Trung ương Cục miền Nam (20 mẫu), Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh (15 mẫu) và Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát (15 mẫu). Bên cạnh đó, tác giả tiến hành điều tra 20 đại diện doanh nghiệp cung ứng dịch vụ then chốt (5 cơ sở lưu trú, 5 nhà hàng ăn uống, 5 đơn vị vận chuyển hành khách, 5 công ty lữ hành) kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia quản lý tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện cao, phản ánh chân thực các mắt xích cung – cầu trong toàn bộ cụm ngành.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Tây Ninh rất đa dạng nhưng cơ sở hạ tầng lưu trú và dịch vụ bổ trợ lại thiếu hụt nghiêm trọng. Quần thể Núi Bà Đen với độ cao 986 m, Hồ Dầu Tiếng rộng 27.000 ha và Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát có diện tích 18.765 ha sở hữu tiềm năng sinh thái vượt trội. Tuy nhiên, toàn tỉnh vào thời điểm nghiên cứu chỉ có 440 cơ sở lưu trú đạt chuẩn 1 đến 2 sao hoặc nhà nghỉ bình dân, hoàn toàn vắng bóng khách sạn 3 đến 5 sao và thiếu trung tâm tổ chức hội nghị quy mô lớn.

Thứ hai, thời gian lưu trú của du khách rất ngắn và mức chi tiêu bình quân còn thấp. Dữ liệu khảo sát chỉ ra rằng doanh thu lưu trú và ăn uống năm 2012 đạt khoảng 3.957 tỷ đồng, chỉ chiếm 10,65% trong tổng mức lưu chuyển bán lẻ và doanh thu dịch vụ 37.167 tỷ đồng của toàn tỉnh. Đa số khách du lịch di chuyển theo tuyến ngắn trong ngày từ Thành phố Hồ Chí Minh qua Địa đạo Củ Chi đến Núi Bà Đen và Tòa Thánh rồi quay về, thời gian lưu trú bình quân ước tính dưới 1,2 ngày/khách.

Thứ ba, nguồn nhân lực ngành du lịch vừa thiếu hụt về số lượng vừa yếu về chuyên môn nghiệp vụ. Tỷ lệ lao động qua đào tạo của tỉnh năm 2011 đạt 46%, song trình độ đại học và cao đẳng chỉ chiếm 4,3%, trung học chuyên nghiệp chiếm 5,0%. Đội ngũ lao động trực tiếp trong các cơ sở dịch vụ du lịch chủ yếu là lao động phổ thông, thiếu kỹ năng lữ hành quốc tế và ngoại ngữ.

Thứ tư, tính liên kết giữa các tác nhân trong cụm ngành còn rất rời rạc. Mặc dù Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) của Tây Ninh có sự bứt phá ngoạn mục từ vị trí thứ 57 (51,95 điểm) năm 2012 lên vị trí thứ 11 (61,15 điểm) năm 2013, song các thể chế hỗ trợ du lịch và hiệp hội ngành nghề địa phương vẫn chưa phát huy trọn vẹn vai trò kết nối chuỗi cung ứng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những hạn chế trên xuất phát từ sự ỷ lại vào lợi thế sẵn có tự nhiên và tính chất mùa vụ của du lịch tâm linh. Lễ hội Xuân Núi Bà Đen thu hút hơn 1,5 triệu lượt khách chỉ trong tháng Giêng âm lịch, tạo ra áp lực quá tải cục bộ nhưng lại suy giảm mạnh trong các tháng còn lại. Nguồn vốn đầu tư công và vốn xã hội hóa cho các hạ tầng kỹ thuật chuyên sâu như khu vui chơi giải trí phức hợp, trung tâm thương mại cao cấp còn hạn chế, chưa thu hút được các nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực tài chính lớn.

Khi so sánh với các công trình nghiên cứu của Võ Thị Thảo Nguyên (2014) tại Đắk Lắk và Nguyễn Thị Thanh Nga (2014) tại Quảng Bình, kết quả tại Tây Ninh cho thấy sự tương đồng rõ rệt về điểm nghẽn nguồn nhân lực và hạ tầng tiếp cận. Biểu đồ đánh giá theo 4 góc của mô hình Kim cương Porter minh chứng rằng các mắt xích nhân tố đầu vào và công nghiệp hỗ trợ của Tây Ninh đều ở mức trung bình thấp, đòi hỏi chính quyền phải chuyển từ vai trò quản lý hành chính đơn thuần sang kiến tạo thể chế và điều phối liên kết vùng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích mô hình Kim cương, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cụm ngành du lịch Tây Ninh:

  1. Thu hút và giải ngân vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch chất lượng cao: Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng danh mục dự án trọng điểm, kêu gọi các tập đoàn lớn đầu tư phát triển từ 2 đến 3 tổ hợp khách sạn, nghỉ dưỡng tiêu chuẩn 3 đến 5 sao tại khu vực Ma Thiên Lãnh – Núi Bà Đen (quy mô 96 ha) và Hồ Dầu Tiếng (quy mô 800 ha) trong giai đoạn 2016 – 2020. Mục tiêu nâng tỷ lệ du khách lưu trú qua đêm từ dưới 15% lên mức 25 – 30%.

  2. Đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chuyên ngành: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu tại Thành phố Hồ Chí Minh mở các lớp đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn cho 1.000 đến 1.500 lượt lao động mỗi năm trong giai đoạn 2016 – 2018. Phấn đấu nâng tỷ trọng lao động du lịch qua đào tạo chuyên môn đạt trên 60% vào năm 2020.

  3. Đa dạng hóa sản phẩm và gia tăng tính liên kết cụm ngành: Hiệp hội Du lịch tỉnh chủ động kết nối các doanh nghiệp lữ hành, dịch vụ ăn uống và vận tải hình thành các gói sản phẩm liên hoàn, kết hợp tour tâm linh Núi Bà Đen với du lịch sinh thái Hồ Dầu Tiếng, khám phá Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát và du lịch mua sắm tại Khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài, hướng tới mục tiêu nâng thời gian lưu trú bình quân lên 2,0 – 2,5 ngày/khách trước năm 2020.

  4. Hoàn thiện cơ chế chính sách và nâng cao hiệu quả xúc tiến quảng bá: Trung tâm Xúc tiến Đầu tư – Thương mại và Du lịch tỉnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quảng bá hình ảnh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, duy trì thứ hạng PCI nằm trong nhóm 15 tỉnh dẫn đầu cả nước và phấn đấu nâng tốc độ tăng trưởng doanh thu du lịch hàng năm đạt trên 15% trong giai đoạn 2016 – 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Sở VHTTDL, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Tây Ninh): Tài liệu cung cấp cơ sở lý luận và số liệu thực chứng để hoạch định quy hoạch phát triển kinh tế du lịch, xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư và hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật cấp tỉnh.
  • Doanh nghiệp lữ hành và dịch vụ du lịch: Nghiên cứu chỉ ra bức tranh chi tiết về nhu cầu du khách, giúp các công ty thiết kế tour tuyến liên kết, nâng cấp chất lượng phòng lưu trú, dịch vụ ẩm thực và gia tăng trải nghiệm khách hàng.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển, Quản trị du lịch: Cung cấp một case study điển hình về phương pháp ứng dụng Mô hình Kim cương và Lý thuyết Cụm ngành của Michael Porter vào phân tích kinh tế địa phương.
  • Các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước: Nắm bắt toàn diện các dự án quy hoạch tiềm năng, cơ cấu thị trường và định hướng hỗ trợ từ chính quyền địa phương tại Tây Ninh.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lượng khách đến Tây Ninh rất lớn nhưng doanh thu du lịch lại chưa tương xứng? Do du lịch Tây Ninh phụ thuộc lớn vào phân khúc hành hương, lễ hội ngắn ngày tại Núi Bà Đen với hơn 2,4 triệu lượt khách mỗi năm. Hệ thống dịch vụ giải trí, mua sắm và lưu trú cao cấp thiếu thốn khiến phần lớn khách chỉ đi về trong ngày, làm mức chi tiêu bình quân trên đầu khách đạt rất thấp.

Mô hình Kim cương của Michael Porter có ưu thế gì khi phân tích du lịch Tây Ninh? Mô hình cho phép đánh giá toàn diện 4 nhân tố cấu thành nội tại của cụm ngành gồm điều kiện đầu vào, điều kiện cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ và bối cảnh cạnh tranh. Nhờ đó, nghiên cứu làm rõ được các điểm nghẽn thể chế và mối liên kết giữa các tác nhân kinh tế tại địa phương.

Đâu là nút thắt lớn nhất của ngành du lịch Tây Ninh trong giai đoạn nghiên cứu? Nút thắt lớn nhất là cơ sở lưu trú đạt chuẩn cao cấp hoàn toàn chưa có (0 khách sạn từ 3 sao trở lên trong tổng số 440 cơ sở lưu trú) và chất lượng nguồn nhân lực thấp với chỉ 4,3% lao động có trình độ đại học hoặc cao đẳng.

Làm thế nào để phát triển Hồ Dầu Tiếng và Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát thành điểm đến hấp dẫn? Cần kêu gọi các nhà đầu tư chiến lược triển khai các mô hình du lịch sinh thái, thể thao mặt nước tại Hồ Dầu Tiếng (diện tích mặt nước 27.000 ha) và du lịch dã ngoại, khám phá tại Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát (18.765 ha), kết hợp bảo tồn nghiêm ngặt tài nguyên rừng và nguồn nước.

Tây Ninh có lợi thế gì trong việc kết nối du lịch liên vùng Đông Nam Bộ và quốc tế? Tây Ninh sở hữu tuyến giao thông Xuyên Á đi qua địa bàn dài 28 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 99 km và có 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát giáp Campuchia, tạo điều kiện lý tưởng kết nối các tour du lịch đa quốc gia trong khối ASEAN.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện lý thuyết cụm ngành và mô hình Kim cương của Michael Porter nhằm đánh giá khách quan năng lực cạnh tranh của ngành du lịch tỉnh Tây Ninh.
  • Kết quả khảo sát thực tế 120 mẫu xác định rõ các rào cản chính gồm hạ tầng lưu trú hạn chế (440 cơ sở nhưng 0 khách sạn 3 sao), thời gian lưu trú ngắn và nhân lực du lịch chất lượng cao còn thiếu hụt.
  • Đề tài đóng góp hệ thống giải pháp đồng bộ từ thu hút dự án đầu tư 3 – 5 sao, chuẩn hóa kỹ năng cho hơn 1.000 lao động mỗi năm đến đẩy mạnh liên kết tour tuyến nội tỉnh.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn 2016 – 2020 đặt trọng tâm vào việc khai thác hiệu quả các khu vực quy hoạch Hồ Dầu Tiếng, Ma Thiên Lãnh và bảo tồn Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát.
  • Chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp cần chủ động phối hợp thực thi các khuyến nghị chính sách để chuyển hóa tiềm năng tài nguyên thành động lực tăng trưởng kinh tế bền vững cho Tây Ninh.