phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo phụ lục, bảng biểu, luận văn đƣợc chia thành ba chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận trung về năng lực cạnh tranh và kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phân phối Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần phát triển ứng dụng công nghệ Việt Nam 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ KINH NGHIỆM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC PHÂN PHỐI 1. Lý luận chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niêm về cạnh tranh và phân loại cạnh tranh Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh nói trung và cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một khái niệm mà có nhiều cách hiểu khác nhau.
Ở phạm vi doanh nghiệp thì cạnh tranh chủ yếu nhằm mục tiêu tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận tối đa.Marx: “ Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu trang gay gắt giữa các nhà tƣ bản gianh giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng để đạt đƣợc lợi nhuận siêu ngạch”. Nghiên cứu về quá trình sản xuất hàng hóa tƣ bản chủ nghĩa và cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa, Marx đã phát hiện ra kết quả của cạnh tranh trong chủ nghĩa tƣ bản là quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân, từ đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trƣờng và giá cả sản xuất. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (Tập 1), “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất”. Theo Từ điển Kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trƣờng đƣợc định nghĩa là "Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”.
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.D Nordhaus trong cuấn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12), Cạnh tranh là sự kinh địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành lấy khách hàng hoặc thị trƣờng. Hai tác giả này cho rằng Cạnh tranh đồng nghĩa với Cạnh tranh hoàn hảo. Ba tác giả khác của Mỹ là D.Dornbush cũng cho rằng cạnh tranh là Cạnh tranh hoàn hảo, Các tác giả này viết. Một là cạnh tranh hoàn hảo là ngành trong đốmị ngƣời đểu tin rằng hành động của họ không gây ra ảnh hƣởng tới giá cả thị trƣờng, phải có nhiều ngƣời bán nhiều ngƣời mua.
Theo trang Web Bách khao toàn thƣ mở Wikipedia viết Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, ngƣời tiêu dùng, thƣờng nhân….) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tƣờng đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thƣơng mại khác để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ thì “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”.
Sau khi dẫn chứng, so sánh và phân tích, C. Mác đã đi đến khẳng định: chủ thể cạnh tranh chủ yếu là các nhà tƣ bản, họ tiến hành đọ sức về kỹ thuật, kinh tế, xã hội để tối đa hóa lợi ích. Xét ở góc độ quan hệ sản xuất, cạnh tranh thúc đẩy sự sáng tạo kỹ thuật, đổi mới tổ chức, quản lý, giảm chi phí, nâng cao chất lƣợng sản phẩm và năng suất lao động. Xét ở góc độ quan hệ sản xuất, cạnh tranh là biện pháp, là con đƣờng cơ bản để nhà tƣ bản đơn lẻ thu đƣợc giá trị thặng dƣ hoặc lợi nhuận độc quyền, để toàn bộ giai cấp tƣ sản cùng phân chia và chiếm hữu giá trị thặng dƣ.
Xét ở góc độ xu thế lịch sử, cạnh tranh tăng lên tất yếu đƣa đến sự tích tụ tƣ bản và tập trung sản xuất, từ đó đẩy chủ nghĩ tƣ bản từ giai đoạn tự do cạnh tranh bƣớc vào giai đoạn độc quyền. Nhƣng độc quyền chẳng những xóa bỏ cạnh tranh, trái lại còn làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tƣ bản chủ nghĩa theo đó ngày càng sâu sắc hơn. Rõ ràng, điều lớn lao, sâu xa trong lý luận cạnh tranh của C.Mác là ở chỗ ông không chỉ phân tích cạnh tranh ở góc độ hiện tƣợng kinh tế, mà còn đứng ở tầm cao quan điểm duy vật lịch sử và chủ nghĩa xã hội khoa học để quan sát, phân tích vai trò lịch sử và xu thế phát triển của cạnh tranh. 8 Nhƣ vậy, cạnh tranh đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ khác nhau, cạnh tranh là sản phẩm riêng của nền kinh tế thị trƣờng, là linh hồn và là động lực cho sự phát triển của thị trƣờng.
Cạnh tranh đƣợc mô tả ở các đặc trƣng cơ bản sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần hơn phần thắng về mình giữa các chủ thế kinh doanh. Khi đó phải tồn tại nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu khác nhau. Các chủ thể có quyền tự do hành xử trên thị trƣờng. Thứ hai, về mặt hình thức, cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các doanh nghiệp.
Nói cách khác, cạnh tranh suy cho cùng là phƣơng thức giải quyết mâu thuẫn về lợi ích tiềm năng giữa các nhà kinh doanh với vai trò quyết định của ngƣời tiêu dùng. Trong kinh doanh, lợi nhuận là động lực cho sự gia nhập thị trƣờng, là thƣớc đo sự thành đạt và là mục đích hƣớng đến của các doanh nghiệp. Trong chu trình đó, khách hàng và ngƣời tiêu dùng có vai trò là đại diện cho thị trƣờng, quyết định giá trị thặng dƣ của xã hội sẽ thuộc về ai. Mức độ đạt đƣợc lợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trong việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng.
Thứ ba, mục tiêu cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thƣơng trƣờng, đồng thời làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội.1 Phân loại cạnh tranh Dựa vào các tiêu chí và giác độ nhiên cứu khác khác nhau thì cạnh tranh đƣợc chia thành nhiều loại nhƣ sau: (1) cạnh tranh quốc gia; (2) cạnh tranh nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành; (3) cạnh tranh giữa bên mua; (4) cạnh tranh giữa bên bán; (5) cạnh tranh giá cả; (6) cạnh tranh phi giá cả… Để nghiên cứu hiệu lực của cơ chế thị trƣờng, ngƣời ta chú ý đến cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. Cạnh tranh quốc gia: Là hình thức cạnh tranh này thể hiện qua việc các quốc gia nỗ lực để xây dựng môi trƣờng kinh tế chung, ổn định, đảm bảo phân bố hiệu quả nguồn lực và duy trì mức tăng trƣởng cao trong nền kinh tế và bền vững, mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp và công dân của nƣớc mình. Ở đây vấn đề cạnh 9 tranh quốc gia rất đƣợc các chính phủ quan tâm và có ảnh hƣởng sâu sắc tới các doanh nghiệp trong môi trƣờng toàn cầu hóa kinh tế, nó tạo dựng lợi thế quốc gia, hình ảnh, thƣơng hiệu của quốc gia. Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nội bộ ngành: Là sự canh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa có lợi hơn.
Đây là một quá trình đấu tranh hoặc giành giật từ một hoặc một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp trong cùng một ngành để có thể tồn tại và phát triển ngành đó. Trong lĩnh vực kinh doanh, một doanh nghiệp có thể có nhiều sản phẩm nhƣng việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không đơn thuần là tổng cạnh tranh của các sản phẩm mà nó còn bao gồm các yếu tố hạ tầng của doanh nghiệp cũng nhƣ cách quản lý, khai thác và phát triển các yếu tố này. Cạnh tranh giữa các ngành: Là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích tìm nơi đầu tƣ có lợi hơn. Hình thức cạnh tranh này diễn ra giữa các ngành trong nền kinh tế, từ việc thu hút, phân bổ nguồn lực đến cả việc phân chia thị trƣờng.
Một biểu hiện hay đƣợc nhắc đến của cạnh tranh là việc cạnh tranh của sản phẩm thay thế. Tuy nhiên nội dung đặc biệt quan trọng của cạnh tranh ngành là việc thu hút và phân bổ nguồn lực có thể dẫn đến sự thay đổi kết cấu ngành, thậm chí ảnh hƣởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của một ngành, một lĩnh vực trong nền kinh tế. Về mặt lý thuyết, cạnh tranh ngành sẽ giúp xã hội phân bổ nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả. Cạnh tranh giữa người sản xuất, doanh nghiệp sản xuất với nhau: Đây là hình thức phổ biến nhất của cạnh tranh.
Theo hình thức này, các nhà sản xuất đấu tranh với nhau để dành chỗ đứng trên thị trƣờng (thị phần, kênh phân phối, sản phẩm…) để có thể đạt đƣợc các mục tiêu ngắn hạn của mình và qua đó đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững. Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Ngƣời mua ở đây không chỉ là ngƣời tiêu dùng mà còn bao gồm cả các nhà sản xuất. Theo hình thức này, những ngƣời mua, doanh nghiệp mua sẽ đấu tranh với nhau để có thể tiếp cận đƣợc nguồn hàng 10 ổn định cả về số lƣợng và chất lƣợng với mức giá thấp nhất. Cƣờng độ của hình thức cạnh tranh này phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ cung cầu và sẽ tăng cao khi cầu lớn hơn cung.
Hình thức này phổ biến trong những ngành kinh doanh mang tính mùa vụ khi vào thời vụ tiêu dùng. Cạnh tranh giữa người mua/doanh nghiệp mua với người bán/doanh nghiệp bán: Hình thức cạnh tranh này luôn xảy ra trong các hoạt động kinh tế.