CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP Chương này nhằm tìm hiểu lý thuyết về lợi thế cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, các vấn đề liên quan và mối quan hệ qua lại. Điều này là rất cần thiết giúp chúng ta hiểu chính xác các khái niệm và cơ sở để phân tích xác định đâu là năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh của công ty và nguồn lực nào của công ty làm nên những năng lực, lợi thế đó. Chương này trình bày gồm ba phần chính: một là, giá trị và sự thỏa mãn của khách hàng; hai là, lợi thế cạnh tranh và các chiến lược cạnh tranh; ba là, các phương pháp phân tích để xác định lợi thế cạnh tranh. Các nội dung này được làm rõ để làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu đề tài.1 Giá trị và sự thỏa mãn của khách hàng Khách hàng sẽ đánh giá xem thứ hàng nào mang lại giá trị cao nhất.
Khách hàng là người luôn mong muốn giá trị tối đa trong phạm vi túi tiền cho phép cùng trình độ hiểu biết, khả năng, động cơ và thu nhập của họ. Họ đề ra một kỳ vọng về giá trị rồi căn cứ vào đó mà hành động mua hoặc không mua sản phẩm và dịch vụ của một hãng nào đó (Kotler, 2006). Có thể thấy, chính mức độ cung ứng giá trị của một doanh nghiệp cho khách hàng sẽ ảnh hưởng quan trọng đến mức độ thỏa mãn và sự trung thành của khách hàng đối với sản phẩm hoặc dịch vụ của một hãng nào đó. Ngày nay, các công ty đang hoạt động trong một môi trường cạnh tranh rất quyết liệt.Vấn đề mà bất cứ một nhà quản trị nào cũng phải đặt ra cho mục đích kinh doanh của doanh nghiệp là giữ chân khách hàng và giữ được thị phần.
Trong phần này, tác giả sẽ phân tích bằng con đường nào mà các doanh nghiệp có thể giữ được khách hàng, giành được thị phần và chiến thắng các đối thủ cạnh tranh.1 Giá trị khách hàng Theo Philip Kotler (2006, trang 47): “Giá trị dành cho khách hàng là chênh lệch giữa tổng giá trị của khách hàng và tổng chi phí của khách hàng. Tổng giá trị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 của khách hàng là toàn bộ những ích lợi mà khách hàng trông đợi ở một sản phẩm hay dịch vụ nhất định”. Đầu tiên, áp dụng định hướng cung cấp giá trị khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ về thị trường và khách hàng của mình bằng cách đưa ra những câu hỏi, chẳng hạn: chính xác thì khách hàng cần gì? Trong tất cả những giá trị mà khách hàng coi trong, giá trị nào chúng ta nên tập trung vào để có được lợi thế? Khách hàng nghĩ như thế nào về khả năng cung cấp giá trị đó của doanh nghiệp? Những giá trị mà khách hàng coi trong sẽ thay đổi như thế nào trong tương lai? Thứ hai, các nhà quản lý phải chuyển tải những nghiên cứu về khách hàng thành những hoạt động phục vụ khách hàng tốt hơn. Nếu các doanh nghiệp ngày càng cạnh tranh tốt hơn về cung cấp giá trị khách hàng ưu việt hơn, họ sẽ cần có một tập hợp “ các công cụ giá trị khách hàng” tương ứng.
Sử dụng công cụ này, các tổ chức trong tương lai sẽ trở nên giỏi hơn ở việc kết hợp khả năng quản lý chất lượng nội bộ với tiêu điểm chiến lược hướng ngoại thống nhất với cách mà các khách hàng nhìn nhận giá trị.1: Các yếu tố quyết định giá trị dành cho khách hàng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Theo mô hình các yếu tố quyết định nên giá trị khách hàng trên đây, tổng giá trị của khách hàng bao gồm: giá trị sản phẩm, giá trị dịch vụ, giá trị về nhân sự và giá trị về hình ảnh. Tổng chi phí của khách hàng bao gồm: giá tiền (trả cho sản phẩm, dịch vụ), phí tổn công sức (để tìm hiểu và cho đến khi có được sản phẩm), phí tổn thời gian (thời gian cần thiết kể từ lúc tìm hiểu đến lúc có được sản phẩm) và phí tổn tinh thần.Vì vậy, khách hàng sẽ mua hàng mà nó đảm bảo giá trị dành cho khách hàng là lớn nhất.2 Sự thỏa mãn của khách hàng Sự thỏa mãn khách hàng là một thuật ngữ trong kinh doanh, là một sự đo lường các sản phẩm, dịch vụ được cung cấp bởi một công ty đáp ứng hoặc đáp ứng vượt trội sự mong đợi của khách hàng. Sự thỏa mãn của khách hàng chỉ đề cập đến sự phản ứng lại của người tiêu dùng cuối cùng, những người có thể hoặc không thể là người mua hàng (Giese, 2000). Còn theo Philip Kotler (2006, trang 49) thì “sự thỏa mãn (của khách hàng) là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm (hay sản lượng) với những kỳ vọng của người đó”.
Có thể hiểu, mức độ thỏa mãn là sự khác biệt kết quả thực sự nhận được và kỳ vọng vào sản phẩm của khách hàng. Mức độ thỏa mãn xem xét với ba cấp độ sau: nếu kết quả thực tế tương xứng với mức kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng; nếu kết quả thực tế vượt trên cả sự mong đợi của khách hàng thì khách hàng rất hài lòng; nhưng nếu kết quả thực tế quá kém hơn so với mức kỳ vọng thì khách hàng sẽ thất vọng và không hài lòng. Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu các yếu tố tạo nên giá trị khách hàng, đồng thời cũng phải đo lường sự thỏa mãn của khách hàng. Đây là một công việc hết sức quan trọng, bởi vì chính những kết quả này sẽ giúp nhà nghiên cứu xác định các yếu tố chính góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; cũng như các kế hoạch cho việc khắc phục các năng lực còn yếu kém hay phát triển các yếu tố cốt lõi.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Ngoài ra, trong thị trường ngày nay, các công ty cần phải theo dõi sát những kỳ vọng của khách hàng, những kết quả được thừa nhận ở công ty và cũng phải theo dõi những vấn đề này của đối thủ cạnh tranh.3 Cung ứng giá trị và sự thỏa mãn cho khách hàng Michael Porter đã đề nghị lấy chuỗi giá trị làm một công cụ của công ty để tìm cách tạo ra giá trị lớn hơn cho khách hàng. Mỗi công ty là một tập hợp của các hoạt động được thực hiện nhằm thiết kế, sản xuất, bán hàng, giao hàng và hỗ trợ sản phẩm của mình (Porter, 2008). Chuỗi giá trị xác định chín hoạt động tương ứng về chiến lược tạo ra giá trị và chi phí trong một doanh nghiệp cụ thể. Chín hoạt động tạo ra giá trị này bao gồm năm hoạt động chủ chốt và bốn hoạt động hỗ trợ.
Khái quát chuỗi giá trị của doanh nghiệp được thể hiện qua hình 1.2 : Chuỗi giá trị của Michael Porter Để doanh nghiệp tạo ra được những giá trị đáp ứng lớn hơn sự kỳ vọng của khách hàng và cũng làm nền tảng cho việc tạo dựng uy tín cần lưu ý những điểm sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 Hoạt động chủ yếu cần được thực hiện tốt: bởi vì trong việc tạo ra giá trị khách hàng thì đây là những hoạt động đóng vai trò chính. Các hoạt động chủ yếu bao gồm một chuỗi công việc, từ việc đưa các yếu tố đầu vào về doanh nghiệp cho đến việc vận hành chế biến, tạo ra các thành phẩm, bán hàng và các hoạt động thuộc về dịch vụ khách hàng. Hoạt động hỗ trợ cần được đầu tư: đây là những hoạt động hỗ trợ cho tất cả các hoạt động chủ yếu, tuy không trực tiếp tạo ra giá trị khách hàng nhưng thiếu chúng thì các hoạt động chủ yếu không thể tiến hành. Nhiệm vụ của doanh nghiệp là phải thường xuyên kiểm tra chi phí và kết quả thực hiện của mình trong từng hoạt động tạo ra giá trị và liên tục cải tiến.
Công ty phải ước tính được chi phí và kết quả thực hiện của các đối thủ để làm cơ sở so sánh. Sự phối hợp tốt hoạt động của tất cả các bộ phận khác nhau của doanh nghiệp là rất quan trọng. Bộ phận khác nhau trong công ty thường hoạt động dựa trên lợi ích của từng bộ phận mà không phải hướng tới lợi ích của công ty và khách hàng. Điều quan trọng ở đây là giải quyết được tình trạng này, đây chính là điều kiện cần để nâng cao lợi thế cạnh tranh.
Ngoài ra, công ty cũng cần tìm kiếm lợi thế cạnh tranh ở bên ngoài phạm vi chuỗi giá trị của mình, trong phạm vi các chuỗi giá trị của người cung ứng, người phân phối và cuối cùng là của khách hàng (Kotler, 2006).2 Lợi thế cạnh tranh và các chiến lược tranh 1.1 Nguồn lực, năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm về nguồn lực Đối với công ty thì nguồn lực bao gồm: các tài sản hữu hình và vô hình, năng lực của cá nhân và tổ chức, và các nguồn lực do công ty kiểm soát, các yếu tố đặc trưng của các vị thế thị trường, các nguồn lực hình thành nền tảng của các lợi thế cạnh tranh trong phối thức (Grunig and Kuhn, 2002). Theo Lê Thế Giới và các cộng sự (2009), nguồn lực theo nghĩa rộng, bao gồm một loạt các yếu tố tổ chức, kỹ thuật, nhân sự, vật chất, tài chính của công ty. Như TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 vậy, nguồn lực là những gì mà một công ty cần phải có để hoạt động. Nguồn lực là những yếu tốgiúp doanh nghiệp duy trì hoạt động và cung cấp giá trịcho khách hàng.
Nguồn lực có thể xem là có giá trị nếu nó góp phần thiết yếu vào lợi thế cạnh tranh bền vững cho doanh nghiệp phải thỏa mãn các bố tiêu chí như sau: (1) có thể tạo ra được giá trị khách hàng, (2) tính hiếm có, (3) có thể thay thế nhưng không hoàn toàn, (4) có thể bắt chước nhưng không hoàn toàn (Barney, 1991). Một nguồn lực tự nó không là điều kiện đủ để tạo ra lợi thế cạnh tranh trong phối thức, mà nguồn lực này phải tạo ra được giá trị khách hàng. Với các nguồn lực có thể đạt được bằng cách thức đơn giản hay có thể xây dựng trong ngắn hạn, thì khó có thể giúp tạo ra các sản phẩm hay dịch vụ có tính riêng biệt vì các doanh nghiệp khác, nhất là doanh nghiệp cạnh tranh trực tiếp đều có thể thiết lập các nguồn lực tương tự. Do vậy, các lợi thế cạnh tranh trong phối thức phải dựa trên những nguồn lực hiếm có.