CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm cạnh tranh Cùng với quá trình hội nhập kinh tế, thuật ngữ cạnh tranh, năng lực cạnh tranh được đề cập nhiều trong các nghiên cứu, nhất là từ khi Việt Nam bắt đầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Do vậy, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ cạnh tranh và các cấp độ ứng dụng, có thể ở cấp độ quốc gia, cấp độ ngành, doanh nghiệp hoặc sản phẩm.
Theo giáo trình Kinh tế Chính trị học Mác Lê-nin (2002) [23] “cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất kinh doanh nhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là giành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của các chủ thể tham gia cạnh tranh”. Từ điển Bách khoa Việt Nam [17] định nghĩa, “cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung-cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của OECD (2000) [55] chọn định nghĩa về cạnh tranh kết hợp cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia: “là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Porter [29] thì cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự quân bình hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi. Qua tổng hợp và trình bày nội dung các quan niệm khác nhau về cạnh tranh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ii của một số tác giả, cho thấy: trong quan niệm của mỗi tác giả do đứng ở các góc độ nghiên cứu khác nhau nên một số nội hàm của khái niệm có sự khác nhau.
Song trong tất cả các khái niệm đó đều có những nội hàm chủ yếu, tương đồng hoặc giống nhau, đó là: - Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh cùng một loại sản phẩm hàng hóa và cùng tiêu thụ trên cùng một thị trường. - Mục đích cuối cùng là tìm kiếm được lợi nhuận, mong muốn được tồn tại và phát triển doanh nghiệp hoặc ngành sản phẩm. Để đạt được mục đích cơ bản cuối cùng đó, cuộc ganh đua trong kinh doanh phải tạo cho được những điều kiện, cơ hội tốt nhất nhằm giành được thị trường và mở rộng thị trường để tăng thị phần, trên cơ sở hạ thấp chi phí sản xuất, tiêu thụ và các hoạt động có liên quan, không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc cung cấp các sản phẩm có sự khác biệt. Đó là các tiêu chí quan trọng nhất phản ánh năng lực cạnh tranh.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” có nguồn gốc từ Latinh là competere, có ý nghĩa là cùng gặp nhau tại một điểm, chỉ ra khả năng đương đầu trong tình trạng cạnh tranh và ganh đua với người khác. Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng kiểm soát các lợi thế tương đối so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất. Khái niệm năng lực cạnh tranh được sử dụng không chỉ đối với sự ganh đua giữa các sản phẩm của doanh nghiệp với nhau mà còn được sử dụng trong việc so sánh năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Trong những năm gần đây, khái niệm năng lực cạnh tranh ngày càng được nhiều người quan tâm từ các nhà nghiên cứu, các chính trị gia đến các nhà quản lý chính quyền và các doanh nhân.
Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm này vẫn chưa chưa được quan niệm và sử dụng một cách thống nhất. Nguyên nhân cơ bản là có nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực cạnh tranh như: M. Porter cho rằng “năng lực cạnh tranh chỉ có nghĩa khi xem xét ở cấp độ quốc gia là năng suất” [29]. Theo OECD [55], “năng lực cạnh tranh” được định nghĩa là sức sản xuất ra LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com iii thu nhập tương đối cao được định nghĩa là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Theo Nhóm tư vấn về năng lực cạnh tranh “Năng lực cạnh tranh liên quan đến các yếu tố năng suất, hiệu suất và khả năng sinh lợi. Năng lực cạnh tranh là một phương tiện nhằm tăng các tiêu chuẩn cuộc sống và phúc lợi xã hội. Xét trên bình diện toàn cầu, nhờ tăng năng suất, hiệu suất trong bối cảnh phân công lao động quốc tế, năng lực cạnh tranh tạo nền tảng cho việc tăng thu nhập thực tế của người dân” [47]. Theo Nguyễn Văn Thanh (2003), [27] cho rằng “năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới”.
Năng lực cạnh tranh về cơ bản là một khái niệm ở mức công ty. Một công ty có năng lực cạnh tranh nếu có thể sản xuất các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao và chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh ở trong nước và quốc tế. Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với kết quả lợi nhuận dài hạn và khả năng của nó để bồi hoàn cho người lao động, tạo thu nhập cho các chủ sở hữu. Từ các quan niệm trên, có thể rút ra kết luận chung là: “năng lực cạnh tranh là khả năng tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với yêu cầu của thị trường và tạo ra thu nhập cao hơn và bền vững hơn cho chủ thể cạnh tranh”.
Khái niệm lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là lợi thế mà doanh nghiệp đang có hoặc có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh. Đó chính là những giá trị đặc thù mà doanh nghiệp đang sở hữu, được sử dụng để nắm bắt cơ hội, tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Theo các nhà kinh tế cổ điển: các yếu tố sản xuất như đất đai, vốn, lao động, những yếu tố tài sản hữu hình là nguồn lực quan trọng tạo nên lợi thế cạnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com iv tranh. Adam Smith (1723 - 1790) cho rằng: lợi thế cạnh tranh dựa trên cơ sở lợi thế tuyệt đối về năng suất lao động, năng suất lao động cao nghĩa là chi phí sản xuất giảm, muốn tăng năng suất lao động thì phải phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất.
Tuy nhiên theo David Ricardo (1772 - 1823): lợi thế cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào lợi thế tuyệt đối, mà còn phụ thuộc vào cả lợi thế tương đối tức là lợi thế so sánh và nhân tố quyết định tạo nên lợi thế cạnh tranh vẫn là chi phí sản xuất nhưng mang tính tương đối. Porter: lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh như: chất lượng sản phẩm dịch vụ, mạng lưới phân phối, cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật [28]. Từ những nghiên cứu trên đây, có thể hiểu: lợi thế cạnh tranh là cái làm cho doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất nào đó có được các ưu thế vượt trội so với đối thủ cạnh tranh, được sử dụng để nắm bắt cơ hội, giành thắng lợi trước đối thủ. Lợi thế cạnh tranh được hình thành từ tập hợp những lợi thế so sánh.
Trong đó có: lợi thế so sánh tuyệt đối là tập hợp những đặc tính riêng có của chủ thể mà đối thủ của nó không có; và lợi thế so sánh tương đối, bao gồm tập hợp những đặc tính vượt trội (đặc tính hơn hẳn) của chủ thể so với đối thủ cạnh tranh. Mỗi ngành có các lợi thế cạnh tranh khác nhau. Mặt khác, lợi thế cạnh tranh của ngành là không cố định. Nó luôn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế và sự thay đổi cơ cấu nguồn lực của ngành cũng như hiệu quả khai thác, phát huy các nguồn lực để đạt được các mục tiêu trong cạnh tranh.
Lợi thế cạnh tranh của ngành có thể bị giảm sút hoặc mất đi do không biết cách nắm bắt, không được chú trọng đầu tư đúng mức hoặc bị đối thủ đánh cắp, bắt chước. Do vậy, để tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững, tức duy trì được vị thế trong cạnh tranh luôn là vấn đề mang tính chiến lược đối với ngành. Tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mỗi DN, mỗi ngành có ý nghĩa hết sức quan trọng và quyết định đến sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com v sống còn của mỗi DN, ngành. Bởi suy cho cùng, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh là mang lại càng nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại DN, ngành được xem như là một hoạt động không thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của DN và góp phần tăng trưởng ngành, phục vụ tốt nhu cầu khách hàng và nền kinh tế của đất nước.
Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh ngành Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng duy trì, nâng cao lợi thế cạnh tranh của ngành trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị phần, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững cũng như khả năng đương đầu, thích ứng của chính các DN trong nội bộ ngành trước các áp lực cạnh tranh trong cấu trúc ngành và sự thay đổi của nó. Những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành Mỗi ngành hoạt động sản xuất kinh doanh đều bị chi phối bởi các yếu tố môi trường. Có thể chia thành môi trường bên ngoài và bên trong ngành 1. Môi trường vĩ mô 1.