Mở đầu Phẩn 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 2. Khái niệm và vai trò của cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là sản phẩm tất yếu của sự phát triển nền kinh tế xã hội.
Các học thuyết kinh tế thị trường, dù trường phái nào cũng đều thừa nhận rằng : cạnh tranh chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường – nơi mà cung, cầu và giá cả hàng hóa là những nhân tố cơ bản của thị trường. Cùng với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, thuật ngữ “ cạnh tranh”, và “ khả năng cạnh tranh” được đề cập nhiều trong các nghiên cứu. Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp, do cách tiếp cận khác nhau nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh và các cấp độ áp dụng, có thể ở cấp độ quốc gia, cấp độ ngành, doanh nghiệp hoặc sản phẩm.Mác “Cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Cạnh tranh có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ), giữa người tiêu dùng với nhau (để mua được hàng tốt hơn, rẻ hơn) và giữa những người sản xuất (để có được những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ).
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam (1999), cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản. Theo từ điển Longman của Anh: “Cạnh tranh là sự nỗ lực để đạt thành công hơn những đối thủ của mình trong kinh doanh”. Theo sách “Khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thôn Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ” (2011) – Nhà xuất bản lao động thì có rất nhiều cách diễn đạt khác nhau về cạnh tranh, nhưng có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau: 4 Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham gia. Thứ hai, mục đích của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các chủ thể đều cùng hướng đến chiếm đoạt; tức là phải có nhiều chủ thể cùng tham gia cạnh tranh.
Đó là các chủ thể có cùng mục đích, mục tiêu và kết quả phải giành giật. Trong kinh tế, với các chủ thể cạnh tranh bên bán, đó là các loại sản phẩm tương tự có mục đích phụ vụ một loại nhu cầu của khách hàng mà các chủ thể tham gia cạnh tranh đều có thể làm ra và được người mua chấp nhận. Còn với chủ thể cạnh tranh bên mua là sự giành giật mua được các sản phẩm theo đúng mong muốn của mình. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cạnh tranh cụ thể, có các ràng buộc chung mà các chủ thể tham gia cạnh tranh phải tuân thủ như đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh.
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau : cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá sản phẩm, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm, cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt,v. Đó là những tiêu chí quan trọng phản ánh khả năng cạnh tranh của chủ thể. Xét trên giác độ cấp quản lý thì cạnh tranh có 3 loại cơ bản như sau: - Cạnh tranh cấp quốc gia: Thường được phân tích theo quan điểm tổng thể, chú trọng vào môi trường kinh tế vĩ mô và thể hiện vai trò của Chính phủ. Theo Chủ tịch Hội đồng chính sách Cạnh tranh của Mỹ (1995), cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và nâng cao được thu nhập thực tế của người dân nước đó.
- Cạnh tranh ở cấp độ ngành: Ash and Brink (1992) cho rằng : một ngành được coi là có tính cạnh tranh khi ngành này có khả năng tạo nên lợi nhuận và tiếp tục duy trì được thị phần trên thị trường trong và quốc tế. - Cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm: Tác giả Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2003) cho rằng “ Sản phẩm cạnh tranh là sản phẩm đem lại giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn sản phẩm của mình chứ không phải lựa chọn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh không phải mang tính nhất thời mà là 5 một quá trình liên tục. Sản phẩm cạnh tranh tốt là sản phẩm hội tụ đủ các yếu tố chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ trong và sau khi bán hàng; trong đó yếu tố quan trọng nhất là chất lượng sản phẩm (Keinoske and Tatsuyuki, 2001).
Vai trò của cạnh tranh Trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể kinh tế thường xuyên phải đổi mới công nghệ, cải tạo và nâng cao chất lượng sản phẩm,. đây chính là tiền đề để đào thải các doanh nghiệp yếu kém trên thị trường. Sách “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nông thông Việt Nam trong bối cảnh hội nhập” (2011) cho rằng : Nền kinh tế thị trường được hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với DN mà còn đối với người tiêu dùng cũng như nền kinh tế quốc dân nói chung. Đối với nền kinh tế quốc dân Đối với nền kinh tế cạnh tranh không chỉ là môi trường và động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa quan hệ xã hội, là điều kiện giáo dục tính năng động của các DN.
Bên cạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua sự xuất hiện của những sản phẩm mới. Điều đó chứng tỏ đời sống của con người ngày càng được nâng cao về chính trị, kinh tế và văn hóa. Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng phát triển và sâu rộng. Đối với DN Bất kỳ một DN nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường thì đều muốn DN mình tồn tại và đứng vững.
Để đạt được điều đó, các DN phải có những chiến lược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giật khách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của DN mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu người tiêu dùng nhất. DN nào đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sản phẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì DN đó mới có khả năng tồn tại và phát triển. Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cần thiết.
Cạnh tranh đòi hỏi DN phải quan tâm nhiều hơn tới các hoạt động marketing, bắt đầu từ việc nghiên cứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? 6 sản xuất như thế nào? và sản xuất cho ai ? nghiên cứu thị trường để DN xác định được nhu cầu thị trường và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không sản xuất những gì mà DN có. Cạnh tranh buộc các DN phải đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn. Công cụ cạnh tranh Để cạnh tranh, doanh nghiệp có thể lựa chọn sử dụng một hay một số công cụ cạnh tranh sau: + Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm: Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm thể hiện mức độ thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng lợi ích của sản phẩm. Nếu như trước kia giá cả được coi là quan trọng nhất trong cạnh tranh thì ngày nay nó phải nhường chỗ cho tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Khi có cùng một loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm nào tốt hơn, đáp ứng và thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng thì họ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn. Nhất là trong nền kinh tế thị trường cùng với sự phát triển của sản xuất, thu nhập của người lao động ngày càng được nâng cao, họ có đủ điều kiện để thoả mãn nhu cầu của mình, cái mà họ cần là chất lượng và lợi ích sản phẩm đem lại.Chất lượng sản phẩm được coi là một vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp, một khi chất lượng hàng hoá, dịch vụ không được đảm bảo có nghĩa là khách hàng sẽ đến với doanh nghiệp ngày càng giảm, doanh nghiệp sẽ mất khách hàng và thị trường dẫn tới sự suy yếu trong hoạt động kinh doanh. + Cạnh tranh bằng giá cả sản phẩm: Giá cả là phạm trù trung tâm của kinh tế hàng hoá cơ chế thị trường. Giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của sản phẩm mà người bán có thể dự tính nhận được từ người mua thông qua sự trao đổi các sản phẩm đó trên thị trường.
Khách hàng được tôn vinh là “Thượng đế”, họ có quyền lựa chọn những gì mà họ cho là tốt nhất. Khi có cùng hàng hoá, dịch vụ với chất lượng tương đương nhau thì chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá thấp hơn, để lợi ích họ thu được từ sản phẩm là tối ưu nhất. Doanh nghiệp cạnh tranh thông qua việc định giá sản phẩm: định giá thấp hơn giá thị trường, ngang bằng thị trường hay chính sách giá cao hơn giá thị trường. Định giá ngang bằng với giá thị trường: Giúp doanh nghiệp đánh giá được khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra được biện pháp giảm gía mà chất lượng sản phẩm vẫn được đảm bảo khi đó lượng tiêu thụ sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao và lợi sẽ thu được nhiều hơn.