CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CÁC SẢN PHẨM DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG 1. Một số khái niệm cơ bản và lý thuyết cơ sở 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Một số khái niệm cơ bản và đặc trưng của doanh nghiệp dịch vụ viễn thông Dịch vụ viễn thông là nhóm ngành có vị trị đặc biệt tron sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, được coi là ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa.
“Doanh nghiệp viễn thông là doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam và được cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông. Doanh nghiệp viễn thông bao gồm doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng.” - Khoản 23 Điều 3 Luật Viễn thông 2009.1: Nguồn Bộ thông tin và Truyền thông – Sách trắng 2020- Thị phần doanh thu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông băng rộng di động mặt đất 10 Năm 1993, nhà mạng di động đầu tiên của Việt Nam – MobiFone (thuộc Công ty di dộng VMS MobiFone) ra đời với sứ mệnh cung cấp dịch vụ viễn thông di động ra thị trường đã tạo nên một bước ngoặt lịch sử cho đất nước và tạo nên một thị trường tiềm năng. Gần 30 năm hình thành và phát triển, ngành dịch vụ viễn thông đã vươn mình mạnh mẽ và liên tục đổi mới từ dịch vụ đàm thoại cố định sang đa dạng các loại dịch vụ: viễn thông, internet, chuyển đổi số,. Hiện nay, do đặc thù cơ chế quản lý của nhà nước, số lượng doanh nghiệp viễn thông tại Việt Nam không nhiều, chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước như Viettel (52,35%), MobiFone (25,97%), VNPT (20,19%), Vietnamobile (1,49%).
Năm 2000, đóng góp của lĩnh vực Công nghệ thông tin chỉ khoảng 0,5% GDP cả nươc, với doanh thu 300 triệu USD và số lao động chỉ chiếm khoảng 0,11% tổng số lao động của Việt Nam. Ngành công nghiệp CNTT - TT được coi là ngành kinh tế (cấp 2) nhỏ, thua kém các ngành khác như nông nghiệp, dầu khí, thương mại, xây dựng. Tuy nhiên sau 20 năm, lĩnh vực CNTT đã có bước phát triển nhảy vọt: - Doanh thu vào năm 2019 là 120 tỉ USD, gấp 400 lần năm 2000, tương ứng mức tăng trưởng bình quân 37%/năm trong suốt 19 năm. - Số lao động là 1.000 người, gấp 20 lần năm 2000, chiếm 1,88% tổng số lao động Việt Nam.
- Năng suất lao động gấp 7,6 lần năng suất lao động bình quân cả nước. - Đóng góp 14,3% vào GDP của Việt Nam, gấp 28 lần năm 2000 (0,5% GDP). - Xuất khẩu giá trị 89,2 tỉ USD, chiếm 33,7% xuất khẩu của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu 1 lao động tạo ra 1 năm gấp 18 lần bình quân cả nước.
Như vậy, từ xuất phát điểm là một ngành công nghiệp nhỏ bé của Việt Nam vào năm 2000, sau 20 năm CNTT đã trở thành ngành kinh tế chiếm tỷ trọng lớn tại Việt Nam. Khái niệm năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dịch vụ viễn thông 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường mà ở đó các chủ thể kinh tế (quốc gia, ngành nghề, doanh nghiệp, cá nhân,.) ganh đua với nhau 11 để chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng, nâng cao lợi nhuận,. trong cùng điều kiện sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có lợi nhất nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
Năng lực cạnh tranh là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thương trường. Sự tồn tại và sức sống của doanh nghiệp thể hiện trước hết ở năng lực cạnh tranh. Để từng bước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập, nâng cao năng lực cạnh tranh chính là tiêu chí phấn đấu của các doanh nghiệp hiện nay. Theo Michael Porter: “Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra những sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao, phù hợp với nhu cầu khách hàng, hoặc sản phẩm có chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận.” Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Ngoài ra, còn thông qua một số tiêu chí khác như: nguồn lực về vốn, công nghệ, con người, trình độ quản lý, chất lượng và giá cả sản phẩm, hệ thống phân phối và dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội tại của các doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.
Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương ứng với các đối thủ cạnh tranh. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh 12 cho riêng mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như khách hàng của các đối thủ cạnh tranh. Khái niệm năng lực cạnh tranh doanh nghiệp viễn thông Doanh nghiệp viễn thông là những doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ viễn thông: viễn thông có dây, viễn thông không dây, hoạt động viễn thông vệ tinh, viễn thông internet.
Đối với doanh nghiệp viễn thông nói riêng và doanh nghiệp nói chung, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp đều được đánh giá qua các tiêu chí như: khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp, nguồn lực về vốn, công nghệ, con người, trình độ quản lý, chất lượng và giá cả sản phẩm, hệ thống phân phối và dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp viễn thông là điều tất yếu để tạo nên sự phát triển của doanh nghiệp và của ngành viễn thông, thu hút về nguồn vốn đầu tư, công nghệ và nguồn nhân lực trong và ngoài nước. Do vậy, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông cần được xây dựng và đánh giá dựa trên nguồn lực nội tại của doanh nghiệp, nền tảng môi trường pháp luật, định hướng và chỉ đạo của Nhà nước, kế hoạch SXKD nhằm tạo lập và duy sự tăng trưởng của doanh nghiệp, năng cao chất lượng SPDV. Khái niệm năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp dịch vụ viễn thông 1.
Khái niệm năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ Theo GS Ph.Kotler trong tác phẩm Quản trị Marketing: “Sản phẩm là bất cứ ciais gì được đưa ra thị trường, được thị trường chấp thuận để thoả mãn một bộ phận/ một nhu cầu của con người. Trên cở sở của GS Ph.Kotler và thông qua tham khảo, kế thừa qua điểm của các nhà khoa học trong nước như GS.TSKH Lương Xuân Quỳ, GS.TS Nguyễn Bách Khoa, GS.TS Nguyễn Kế Tuấn,… tác giả nêu khái niệm năng lực cạnh tranh sản phẩm: “Năng lực cạnh tranh sản phẩm là tích hợp năng lực các yếu tố cấu 13 thành sản phẩm hỗn hợp nhằm duy trì và phát triển sức thu hút và vị thế sản phẩm trong tương quan sản phẩm cạnh tranh hiện hữu và tiềm năng trên thị trường sản phẩm trong khoảng thời gian xác định”. Theo quan điểm tiếp cận trên, năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đánh giá thông qua các yếu tố cơ bản: sự vượt trội về chất lượng sản phẩm, giá bán sản phẩm, điều kiện thanh toán và giao hàng, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thương hiệu, dịch vụ sau bán hàng,… so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường ở cùng một thời điểm xác định, được định rõ gắn với 3 thông số đo lường thị trường sản phẩm (không gian, thời gian và chất lượng sản phẩm). Năng lực cạnh tranh sản phẩm và năng lực cạnh tranh doanh nghiệp mặc dù có sự độc lập tương đối nhưng giữa chúng vẫn tồn tại mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố cơ bản, cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược lại chính năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi được nâng cao sẽ tạo nên sức hút, sự hấp dẫn với sản phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng từ đó tạo mức gia tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Như vậy, ta thấy nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm có vai trò hết sức quan trọng, mang tính chất quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp trong điều kiện có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong giai đoạn hiện nay. Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường.
Ở đâu có nền kinh tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp mình tồn tại và phát triển thì phải chấp nhận cạnh tranh. Do vậy, muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cần tìm mọi cách nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và trước hết là năng lực cạnh tranh sản phẩm nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng, tạo giá trị gia tăng cao hơn so với sản phẩm cạnh tranh và doanh nghiệp cạnh tranh. Khái niệm năng lực cạnh tranh sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp viễn thông Khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp viễn thông không thể không bàn tới năng lực cạnh tranh của các SPDV do doanh nghiệp sản xuất cung cấp như 14 viễn thông cố định, viễn thông di động và Internet.
Doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thì các hàng hóa dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp phải có năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, năm 2010, lĩnh vực viễn thông bắt đầu bước vào giai đoạn boã hoà do sự phát triển nhanh đột ngột, áp dụng nhiều chương trình khuyến mại đề tăng khách hàng, tăng doanh thu. Ngành viễn thông phát triển không ổn định, tăng trưởng ảo.