Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bƣu chính viễn thông Việt Nam trên thị trƣờng viễn thông Nghệ An Chương 3: Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn Bƣu chính viễn thông Việt Nam trên thị trƣờng viễn thông Nghệ An. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP KINH DOANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trƣờng thì cạnh tranh là một trong những đặc trƣng cơ bản và không thể thiếu để phát triển thị trƣờng. Nền kinh tế thị trƣờng vận hành phải tuân theo những quy luật khách quan riêng của nó và không loại trừ quy luật cạnh tranh.
Theo quy luật này các doanh nghiệp phải nâng cao chất lƣợng sản phẩm, nâng cao năng suất bằng cách cải tiến máy móc, thiết bị, công nghệ, để giành ƣu thế so với đối thủ của mình. Doanh nghiệp nào thực hiện tốt đƣợc điều này thì doanh nghiệp đó sẽ tồn tại và phát triển. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trƣờng có lợi nhất” [13]. Giáo sƣ Michael Porter của Đại học Harvard, Hoa Kỳ đƣa ra lý thuyết về cạnh tranh nhƣ sau: Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi [1]. Cạnh tranh để trở thành giỏi nhất. Cạnh tranh để trở thành độc nhất vô nhị.
Cạnh tranh không phải tiêu diệt đối thủ mà là doanh nghiệp phải tạo ra sự khác biệt bằng cách mang lại cho khách 9 hàng những giá trị gia tăng cao hơn, mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh [1] Nhƣ vậy, cạnh tranh là đấu tranh để chiếm lĩnh thị trƣờng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ bằng các phƣơng pháp nhƣ kỹ thuật, kinh tế, chính trị, quân sự, tâm lý xã hội. Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh sẽ có các chủ thẻ cạnh tranh mạnh, yếu. Khả năng cạnh tranh đó gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Vì vậy, hiện nay hầu hết các nƣớc đều thừa nhận cạnh tranh là động lực để phát triển kinh tế chứ không chỉ là môi trƣờng.
Do vậy cạnh tranh có thể nói là sự phấn đấu vƣơn lên dành vị trí đứng đầu trong lĩnh vực hoạt động bằng cách cập nhật sử dụng công nghệ tiên tiến, nghiên cứu tạo ra sản phẩm tối ƣu. Năng lực cạnh tranh đƣợc xem xét ở ba cấp độ khác nhau, bao gồm năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm hoặc dịch vụ. - Năng lực cạnh tranh của quốc gia Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) năm 1997 thì năng lực cạnh tranh quốc gia là “khả năng của nền kinh tế quốc dân đạt đƣợc và duy trì mức tăng trƣởng trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trƣng kinh tế khác tƣơng đối vững chắc”. Nhƣ vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia có thể đƣợc hiểu là việc xây dựng một môi trƣờng cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trƣởng cao, bền vững.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia, các nƣớc đang áp dụng các chỉ số theo các tiếp cận của WEF đƣợc sử dụng từ năm 1997 đến 1999 cũng nhƣ chỉ số cạnh 6 tranh tăng trƣởng (Growth Competitiveness Index – GCI) và chỉ số cạnh tranh hiện tại (Current Competitiveness Index – CCI) đƣợc sử dụng từ năm 2000. Theo WEF (1997) có 8 nhân tố xác định năng lực 10 cạnh tranh quốc gia bao gồm: độ mở kinh tế, chính phủ, thể chế, tài chính, công nghệ,lao động, kết cấu hạ tầng, quản trị. Đến năm 2000, chỉ số cạnh tranh quốc gia của WEF đƣợc sử dụng từ năm 1997 kết hợp với hai chỉ số mới: chỉ số năng lực cạnh tăng trƣởng (GCI) và chỉ số năng lực cạnh hiện tại (CCI). Các chỉ số này đƣợc xây dựng chủ yếu dựa trên quan điểm về khả năng cạnh tranh quốc gia của M.Warner và các kinh tế gia của WEF.
- Năng lực cạnh tranh ngành Trong cạnh tranh ngành có chủ thể cạnh tranh là ngành. Nhƣng do khái niệm ngành khá trừu tƣợng và khó tách bạch rõ ràng phạm vi ngành nên cạnh tranh ngành có ý nghĩa gần với cạnh tranh nhóm sản phẩm (nhƣ cạnh tranh ngành dệt may thực ra là cạnh tranh nhóm sản phẩm dệt may). Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng đạt năng suất cao, sử dụng đầu vào thấp nhất để tạo đƣợc nhiều đầu ra nhất trong một ngành. Cũng có cách tiếp cận khác, Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng của ngành đó trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Cách tiếp cận này sát với thực tiễn khi ngƣời ta đánh giá so sánh Năng lực cạnh tranh của một ngành giữa các quốc gia khác nhau. Một số tiêu chí đánh giá Năng lực cạnh tranh ngành là mức lợi nhuận bình quân ngành, tỷ trọng của ngành trong cơ cấu kinh tế, các sản phẩm mũi nhọn của ngành, hệ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA – Revealed Comparative Advantage: xác định trên cơ sở tỷ lệ giữa tỷ trọng xuất khẩu một mặt hàng của một quốc gia trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đó của quốc gia với tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó của thế giới so với tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong một năm), tỷ lệ nội địa hóa, số lƣợng các bằng phát minh và sáng chế trong ngành, mức vốn đầu tƣ, tốc độ phát triển của ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp hỗ trợ (bổ trợ). Có nhiều nhân tố ảnh hƣởng đến Năng lực 11 cạnh tranh ngành, có thể chia theo các nhóm nhân tố sau: điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển khoa học – công nghệ; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế – xã hội. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một công ty đƣợc coi là có năng lực cạnh tranh và đƣợc đánh giá là có thể đứng vững cùng các nhà sản xuất khác thì các sản phẩm cung ứng ra thị trƣờng có chất lƣợng cao và có mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Theo cách đơn giản nhất chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của công ty là khả năng nắm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận đƣợc, vì vậy khi thị phần tăng lên cho thấy năng lực cạnh tranh nâng cao. Năng lực cạnh tranh của công ty là khả năng hãng đó có bán đƣợc hàng nhanh, nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trƣờng cụ thể về một loại hàng cụ thể. Trong quản trị chiến lƣợc, năng lực cạnh tranh của một công ty là khả năng công ty có đạt đƣợc tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với tỷ suất lƣợi nhuận bình quân của ngành. Khái niệm này chỉ rõ bản chất của lợi thế cạnh tranh là hƣớng tới mục tiêu lợi nhuận nhƣng lại không giúp nhiều cho việc phân tích các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh, đặc biệt trong bối cạnh cạnh tranh quốc tế.
Tổng hợp các quan điểm trên thì năng lực cạnh tranh của công ty là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trƣờng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ của công ty. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả sẽ tập trung tìm hiểu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có năng lực cạnh tranh sản phẩm: “Năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ là khả năng sản phẩm, dịch vụ đó đƣợc sử dụng nhiều và nhanh chóng khi trên thị trƣờng có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp loại sản phẩm, dịch vụ đó. 12 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là khả năng sản phẩm, dịch vụ đó đƣợc sử dụng nhiều và nhanh chóng khi trên thị trƣờng có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp loại sản phẩm, dịch vụ đó” Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm, dịch vụ do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trƣờng và thời gian nhất định.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có thể hiểu là sự vƣợt trội so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trƣờng về chất lƣợng và giá cả với điều kiện các sản phẩm, dịch vụ tham gia cạnh tranh đều đáp ứng đƣợc các yêu cầu của ngƣời tiêu dùng, mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả làm cho sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn. Khi đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ ngƣời ta thƣờng sử dụng các chỉ tiêu chính nhƣ: sản lƣợng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần. Các chỉ tiêu này là biểu hiện bên ngoài của năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ cho thấy kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của sản phẩm, dịch vụ. Khi đem so sánh với đối thủ, chúng thể hiện một cách trực giác sức mạnh tổng thể và vị thế hiện tại của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trƣờng.
Chức năng của cạnh tranh Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trọng. Tuy nhiên tầm quan trọng của mỗi chức năng có thể thay đổi theo từng thời kỳ, cụ thể: Chức năng điều chỉnh cung cầu hàng hóa trên thị trƣờng: khi cung một hàng hóa nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những ngƣời bán làm cho giá cả thị trƣờng giảm xuống dẫn đến việc giảm cung.