LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với lịch sử phát triển của ngành Ngân hàng, hoạt động kinh doanh Ngân hàng bán lẻ (NHBL) từ lâu đã trở thành một trong những hoạt động cốt lõi, luôn đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao NLCT, tạo nền tảng vững chắc cho các Ngân hàng thương mại (NHTM). Cùng với đó, hoạt động kinh doanh NHBL còn góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro, mang lại nguồn thu nhập ổn định, bền vững cho các NHTM. Không nằm ngoài xu hướng trên, vào năm 2010 thực hiện chỉ đạo của hội đồng quản trị, Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã định hướng giai đoạn 2010 - 2020 là giai đoạn phát triển của NHBL, vì vậy rất chú trọng đầu tư phát triển các sản phẩm NHBL và mở rộng mạng lưới các chi nhánh, phòng giao dịch bán lẻ tiêu chuẩn.
Theo chỉ đạo đó, năm 2010 BIDV Hoàn Kiếm cùng 4 chi nhánh BIDV khác được thành lập với sứ mệnh là những Chi nhánh bản lẻ tiêu chuẩn đầu tiên trong cả nước. Một trong những sản phẩm dịch vụ NHBL đang được hệ thống BIDV nói chung và BIDV Hoàn Kiếm nói riêng ưu tiên phát triển đó là cho vay mua nhà đối với khách hàng cá nhân. Đây là sản phẩm được khá nhiều khách hàng quan tâm, rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng thấp và đem lại lợi nhuận khá lớn. Theo đó, dư nợ cho vay mua nhà cá nhân tại BIDV Hoàn Kiếm trong giai đoạn 2011 – 2015 chiếm trung bình khoảng 37% dư nợ bán lẻ, thu nhập ròng luôn ở mức hơn 50% thu nhập ròng từ tín dụng bán lẻ, nguồn thu đem lại chiếm khoảng 5,2% tổng thu nhập ròng của Chi nhánh, cùng với đó rủi ro của dịch vụ này luôn được giữ ở mức khá thấp.
Hiện nay, khi mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, nhu cầu về nhà ở ngày càng trở nên bức thiết, nhất là phân khúc nhà ở trung cấp tại các đô thị phát triển như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… Đối tượng khách hàng chủ yếu là những người có mức thu nhập trung bình và có nhu cầu mua nhà để ở. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng chi trả toàn bộ tiền mua căn hộ. Chính vì vậy, nhu 2 cầu vay mua nhà của cá nhân là rất cao. Để đáp ứng nhu cầu đó, hiện nay trên địa bàn Hà Nội, các NHTM đang cung cấp các dịch vụ cho vay mua nhà cá nhân khá cạnh tranh.
Những ngân hàng điển hình như VietinBank, TechcomBank hiện nay đang cung cấp chương trình cho vay ưu đãi lãi suất 0% trong 1 năm đầu cho các khách hàng vay mua nhà tại các dự án Vinhome, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) cung cấp chương trình cho vay ưu đãi giảm trừ lãi suất cho vay 4% so với lãi suất thông thường trong 1 năm đầu tiên, ân hạn trả gốc trong năm thứ 2… Điều này làm cho thị trường tuy còn nhiều cơ hội nhưng trở nên cạnh tranh vô cùng gay gắt. BIDV hiện nay là một trong bốn ngân hàng có quy mô về tổng tài sản, vốn, lợi nhuận lớn nhất Việt Nam. Hiện BIDV đang đầu tư rất lớn để xây dựng hệ thống NHBL. Trong những năm gần đây, dịch vụ cho vay mua nhà cá nhân tại BIDV nói chung và BIDV Hoàn Kiếm nói riêng tuy có tăng trưởng đều đặn nhưng thị phần trong sân chơi này vẫn nhỏ, mức độ cạnh tranh, hấp dẫn của dịch vụ vẫn chưa được khách hàng đánh giá cao do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Trong quá trình công tác tại BIDV Hoàn Kiếm, được lãnh đạo phân công đầu mối triển khai sản phẩm dịch vụ cho vay mua nhà cá nhân, tác giả đã có điều kiện tiếp xúc nhiều với khách hàng, đối thủ cạnh tranh… từ đó rút ra được những điểm mạnh, điểm yếu, thuận lợi, khó khăn của BIDV Hoàn Kiếm trong quá trình triển khai dịch vụ, đồng thời nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ này đối với BIDV Hoàn Kiếm nói riêng và BIDV nói chung. Từ thực tiễn đó, tác giả nhận thấy tính cấp thiết và lựa chọn đề tài: “Nâng cao NLCT dịch vụ cho vay mua nhà cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt nam – Chi nhánh Hoàn Kiếm” để làm đề tài luận văn thạc sỹ. Tổng quan nghiên cứu Nội dung về đề tài nâng cao năng lực cạnh tranh (NLCT), NLCT sản phẩm nói chung và NLCT về một sản phẩm tại NHTM nói riêng không phải là một vấn đề mới, trước đó đã có các nghiên cứu của một số tác giả như sau: - Lận án tiến sỹ “Nâng cao NLCT của hệ thống Ngân hàng thương mại Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” của tác giả Lê Cẩm Ninh thực hiện 3 năm 2014 tại Học viện tài chính. Trong luận án trên, tác giả đã vận dụng mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter để phân tích NLCT.
Luận án đã hệ thống hóa được những nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của NHTM nói chung và các sản phẩm của NHTM trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Khác với luận văn của tác giả là nghiên cứu về NLCT của một sản phẩm, Luận án nghiên cứu bao quát NLCT của cả hệ thống NHTM nói chung, tuy nhiên tác giả có thể học hỏi được cách lập luận logic trong phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới NLCT của luận án để áp dụng vào luận văn của mình. - Luận án tiến sỹ “Đầu tư nâng cao NLCT của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Tố Uyên thực hiện năm 2012 tại Học viện Ngân hàng. Trong luận án trên, tác giả đã vân dụng lý thuyết về NLCT của Michael Porter và tham khảo qua tác phẩm “NLCT của các Ngân hàng thương mại trong xu thế hội nhập” của PGS.
TS Nguyễn Thị Quy để đưa ra các cách thức đánh giá NLCT của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam. Những cách thức đánh giá mà tác giả đưa ra như: đánh giá NLCT thông qua phương thức cạnh tranh, thể hiện qua các chỉ tiêu định tính và định lượng, đánh giá NLCT qua các yếu tố phàn ánh tiềm lực của ngân hàng, đánh giá NLCT thông qua hiệu quả kinh doanh. Đây là những phương thức đánh giá khá bao quát và hữu ích để tác giả có thể học hỏi, vận dụng vào luận văn của mình. Một nét khác trong luận án này, tác giả đã đưa ra những định hướng đầu tư để nâng cao NLCT của ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương trong điều kiện hội nhập.
Tác giả lựa chọn giải pháp đầu tư theo hướng đa dạng hóa, nâng cao chất lượng dịch vụ sản phẩm làm trọng tâm để nâng cao NLCT của ngân hàng. Đây cũng là một điểm phù hợp rất đáng để tác giả học hỏi cho luận văn của mình. - Luận án “Nâng cao NLCT của các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chè đen tại tỉnh Thái nguyên” của tác giả Trần Thị Huyền, thực hiện năm 2015 tại Đại học Southern Luzon State (Philippines). Trong luận án, tác giả đã trình bày thực trạng NLCT của các doanh nghiệp sản xuất chè tại Thái Nguyên, đưa ra được những điểm mạnh, điểm yếu, vị trí tương quan về NLCT của các doanh nghiệp này trên thị 4 trường và những nguyên nhân cùng giải pháp khắc phục.
Điểm nổi bật của luận án là bên cạnh phân tích NLCT của doanh nghiệp, tác giả cũng đã phân tích khá sâu về các nhân tố ảnh hưởng tới NLCT của sản phẩm chè đen được sản xuất tại Thái Nguyên, đặc biệt là nhân tố ảnh hưởng bởi đối thủ cạnh tranh. Từ đó, tác giả có thể học hỏi cho luận văn của mình. - Luận văn thạc sỹ “Nâng cao NLCT trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại BIDV chi nhánh Quang Trung” của tác giả Trương Trần Dũng thực hiện năm 2007 tại Học viện Ngân hàng. Luận văn đã hệ thống một cách cơ bản về hoạt động cho vay tiêu dùng tại NHTM và sử dụng mô hình lý thuyết về NLCT sản phẩm để phân tích về NLCT trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại BIDV Quang Trung.
Trên cơ sở đó đưa ra các hệ thống giải pháp, kiến nghị. Luận văn trên có điểm tương đồng với luận văn của tác giả là đều sử dụng khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh sản phẩm để phân tích về năng lực cạnh tranh của sản phẩm ngân hàng bán lẻ và về năng lực cạnh tranh sản phẩm tại BIDV ở cấp chi nhánh. Từ đó, tác giả có thể học hỏi được việc vận dụng khung lý thuyết trên để phân tích về năng lực cạnh tranh dịch vụ cho vay mua nhà cá nhân tại BIDV Hoàn Kiếm. Tuy nhiên, luận văn trên đã chọn phân tích năng lực cạnh tranh của một nhóm sản phẩm “cho vay tiêu dùng”.
Đây là một nhóm sản phẩm khá rộng, bao gồm khá nhiều sản phẩm cho vay của Ngân hàng có những đặc trưng riêng biệt (bao gồm: Cho vay mua nhà, cho vay mua ô tô, thẻ tín dụng, cho vay học phí du học,. Vì vậy việc phân tích, đánh giá chưa thực sự chi tiết, những giải pháp đưa ra khá chung chung, chưa có tính đột phá và thực tế đối với từng sản phẩm. - Luận văn “Nâng cao NLCT dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Hoàng Thị Hạnh thực hiện năm 2013 tại Trường Đại học Kinh tế và quản trị kinh doanh. Luận văn đã khái quát lại quá trình phát triển của dịch vụ thẻ tại NHTM, sử dụng lý thuyết về NLCT sản phẩm làm khung lý thuyết nghiên cứu.
Học tập kinh nghiệm về nâng cao NLCT trong phát triển sản phẩm này tại các nước trên thế giới và bài học với Việt Nam. Luận văn phân tích thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát 5 triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên rồi đưa ra những đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu, từ đó hệ thống hóa các giải pháp cần thực hiện. Luận án trên đã vận dụng lý thuyết về năng lực cạnh tranh sản phẩm khá tốt để phâm tích về năng lực cạnh tranh dịch vụ thẻ tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thái Nguyên – một chi nhánh Ngân hàng tuy không cùng hệ thống nhưng có quy mô tương đồng với BIDV Hoàn Kiếm. Từ đó, tác giả có thể học hỏi được việc vận dụng khung lý thuyết trên để phân tích về năng lực cạnh tranh dịch vụ cho vay mua nhà cá nhân tại BIDV Hoàn Kiếm.