CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Trong mỗi quốc gia có hai luồng vốn đầu tư cho nền kinh tế, đó là vốn đầu tư trong nước (huy động từ các thành phần kinh tế trong nước) và vốn đầu tư nước ngoài. Để sử dụng vốn đầu tư này, mỗi quốc gia có thể có hai hoạt động là hoạt động đầu tư trong nước và hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Hoạt động đầu tư có thể diễn ra ngay tại lãnh thổ mà chủ đầu tư đăng kí quốc tịch gọi là đầu tư trong nước hoặc có thể diễn ra ở lãnh thổ khác với nước mà chủ đầu tư đăng kí quốc tịch gọi là đầu tư ra nước ngoài (ĐTRNN). Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài về bản chất cũng là hoạt động đầu tư quốc tế. ĐTRNN bao gồm ĐTTTRNN và đầu tư gián tiếp ra nước ngoài. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng gọi là đầu tư trực tiếp đối ngoại, là việc đầu tư của người có tư cách pháp nhân hoặc tổ chức kinh tế của một nước độc lập hoặc cùng xuất khẩu tư bản xây dựng xí nghiệp mới ở nước khác tăng thêm tư bản mở rộng xí nghiệp cũ và có quyền khống chế có hiệu lực.
Cũng có một số nước vì nguyên nhân địa lý mà gọi là đầu tư trực tiếp hải ngoại. Nếu xét về phạm vi quốc tế, việc đầu tư trực tiếp mang tính xuyên quốc gia này chính là hoạt động đầu tư trực tiếp quốc tế (Nguyễn Hữu Quỳnh, 1998). Đầu tư quốc tế và ĐTNN là hai tên gọi khác nhau của cùng một loại hoạt động. Sở dĩ có hai cách gọi do góc độ nhìn nhận, xem xét vấn đề khác nhau.
“ĐTNN” là thuật ngữ dùng khi đứng ở góc độ của một quốc gia để xem xét hoạt động đầu tư từ quốc gia này sang các quốc gia khác hoặc ngược lại. Còn “đầu tư quốc tế” được sử dụng khi xét hoạt động đầu tư trên phương diện tổng thể nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, cũng không cần thiết phải phân biệt giữa ĐTNN và đầu tư quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng như hiện nay. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hoạt động đầu tư nói chung khi xuất hiện hoạt động đầu tư giữa các nước và thường ngầm hiểu luồng vốn này là khối 10 lượng vốn đầu tư của các nước đầu tư vào một quốc gia nào đó.
Ngược lại, lượng vốn đầu tư của các cá nhân, tổ chức của một quốc gia đầu tư ra các nước khác gọi là hoạt động ĐTTTRNN (OFDI). Theo các nhà kinh tế học: Dòng đầu tư quốc tế vận động dựa trên nguyên tắc lợi thế so sánh của các yếu tố vốn, lao động, thị trường giữa các quốc gia, đặc biệt giữa các nước phát triển và đang phát triển. Đầu tư quốc tế là sự di chuyển tài sản vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý… từ quốc gia này sang quốc gia khác để kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận cao trên phạm vi toàn cầu cho các bên tham gia (Phùng Xuân Nhạ, 2007). Tại hội thảo của Hiệp hội Luật quốc tế ở Hen xinh ki, Phần Lan năm 1996, ĐTNN được định nghĩa như sau: “Đầu tư nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó xí nghiệp kinh doanh hoặc dịch vụ”.
Định nghĩa này chưa nêu được mục đích của đầu tư nước ngoài, mới chỉ đề cập đến một vế của hoạt động đầu tư đó là sự “di chuyển vốn” và tiến hành “sản xuất kinh doanh”. Luật ĐTNN của Cộng hòa Liên bang Nga (4/7/1991) quy định: “ĐTNN là tất cả các hình thức giá trị tài sản hay giá trị tinh thần mà người đầu tư đầu tư ở nước ngoài vào các đối tượng của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận” (Voer, 2013). Định nghĩa này tương đối đầy đủ, chỉ rõ bản chất của đầu tư là thu lợi nhuận, tuy nhiên vẫn còn hạn chế. Điều đó có thể thấy ngay sau khi đọc luật của Ucraina: “ĐTNN là tất cả các hình thức giá trị do các nhà ĐTNN đầu tư vào các đối tượng của hoạt động kinh doanh và các hoạt động khác với mục đích thu lợi nhuận hoặc các hiệu quả xã hội”.
Như vậy, mục đích của ĐTNN với NĐT đó là lợi nhuận còn với nhà nước, mục đích của ĐTNN không chỉ thu lợi nhuận cho chủ đầu tư mà còn nhằm cải thiện điều kiện sống, mang lại lợi ích chung cho toàn dân. Hai mục đích này thường đối lập nhau và việc hài hòa giữa hai mục đích này rất khó, đòi hỏi có sự linh hoạt trong thiết lập, thực thi chính sách của nhà nước. Luật Đầu tư của Việt Nam ban hành năm 2014 quy định: Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc 11 thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế, đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. Vậy, Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà ĐTNN đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư, tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế.
Theo Nghị định số 83/2015/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam: “ĐTRNN là việc nhà đầu tư chuyển vốn hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó”. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc NĐT chuyển vốn ĐTRNN để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài. Theo Nghị định này, có hai dấu hiệu cơ bản nhất của ĐTTTRNN là: Có sự di chuyển vốn trên phạm vi quốc tế; chủ đầu tư trực tiếp tham gia vào quá trình sử dụng vốn và quản lý đối tượng đầu tư. Như vậy, ĐTTTRNN là hoạt động do các tổ chức kinh tế và cá nhân nước ngoài tự mình hoặc cùng với các tổ chức kinh tế và cá nhân ở nước sở tại bỏ vốn vào một đối tượng nhất định, trực tiếp quản lý và điều hành nhằm thu được lợi nhuận trong kinh doanh.
Như vậy, ĐTTTRNN của các DNVN như sau: ĐTTTRNN là việc các doanh nghiệp, doanh nhân đưa vốn bằng tiền tài sản hợp pháp khác từ Việt Nam ra nước ngoài để đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý, điều hành hoạt động đầu tư đó nhằm thu được lợi nhuận. Vai trò đầu tư trực tiếp nước ngoài của doanh nghiệp 1.1 Vai trò khách quan của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Thứ nhất, thông qua ĐTTTRNN sẽ làm tăng khả năng phân phối tiềm lực kinh tế quốc tế, tăng phúc lợi và tổng sản phẩm của nền kinh tế thế giới. Trình độ phát triển kinh tế không đồng đều giữa các quốc gia là nguyên nhân tạo ra những lợi thế khác nhau ở mỗi nước. Sự khác biệt về giá cả các yếu tố sản xuất như: trình độ KHCN, vị trí địa lý và tài nguyên,.
dẫn đến sự khác biệt giữa nhu cầu và khả năng tích lũy về vốn ở các nước. 12 Đặc trưng cơ bản trong nền kinh tế thị trường của vốn đầu tư là: vốn là một hàng hóa đặc biệt, tuân theo quan hệ cung cầu trên thị trường, chảy từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi mang lại lợi nhuận thấp tới nơi mang lại lợi nhuận cao hơn với mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận do vốn đầu tư mang lại. Năm 1958, từ lý thuyết kinh tế ngoại thương về sự ưu đãi các yếu tố sản xuất của Heckscher - Ohlin, MacDougall đã đưa ra lý thuyết lợi nhuận cận biên lý giải sự vận động của ĐTTTNN (Eli M. Lý thuyết này được xây dựng với giả thuyết vốn di chuyển tự do từ nước có lợi nhuận cận biên của vốn thấp sang quốc gia có lợi nhuận cận biên của vốn cao.
Nước đi đầu tư thông thường là nước có trình độ phát triển kinh tế cao hơn nước nhận đầu tư. Coi như hai nước A và B cùng sử dụng lao động và vốn để sản xuất những mặt hàng giống nhau. Giả sử nguồn lực lao động ở cả hai quốc gia là cố định và không có tình trạng thất nghiệp. Trong trường hợp cạnh tranh thì năng suất sản phẩm và chi phí lao động tương đương với lợi nhuận cận biên của vốn và giá trị cận biên của lao động.
Tỷ suất lợi nhuận khác nhau do sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai quốc gia này. Các chủ đầu tư của nước A nơi có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển vốn của họ sang nước B đầu tư nhằm đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với đầu tư trong nước. ĐTTTRNN sẽ được thực hiện cho đến khi lợi nhuận cận biên tại hai quốc gia ngang bằng với tỷ suất lợi nhuận bình quân thế giới. Như vậy, ĐTTTRNN đem lại lợi ích cho cả hai nước tham gia hoạt động đầu tư cũng như mang lại lợi ích chung cho cả nền kinh tế thế giới nhờ vốn được sử dụng một cách hiệu quả hơn.
Thứ hai, ĐTTTRNN là một giai đoạn tự nhiên trong vòng đời quốc tế của sản phẩm. Ngày nay, trong xu hướng hội nhập, mỗi quốc gia là một mắt xích trong chuỗi mạng lưới phát triển của nền kinh tế thế giới. Với những lợi thế so sánh ở từng quốc gia, xuất hiện hiện tượng chuyên môn hóa nhằm thực hiện công việc một cách có hiệu quả nhất. Nhưng một quốc gia thì không chỉ phát triển một số lĩnh vực mà họ chuyên môn hóa mà nền kinh tế đòi hỏi phải có sự phát triển đa dạng, phong 13 phú.
Từ đó xuất hiện sự hợp tác kinh tế giữa các nước nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đang ngày một khan hiếm vừa đồng thời phát triển đất nước một cách toàn diện. ĐTTTRNN là một giai đoạn tự nhiên, tất yếu xuất hiện trong quá trình hợp tác nhằm phát triển, kéo dài vòng đời của sản phẩm. Điều này được thể hiện rõ nét trong lý thuyết vòng đời quốc tế sản phẩm của Raymond Vernon: International product life cycle – IPLC (Mostafa H. Lý thuyết này được S.Hirsch đưa ra trước tiên và sau đó được R.