phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương như sau: CHƢƠNG 1: Cơ sở lý luận về quá trình đầu tư dự án FDI của Viettel tại Mozambique. CHƢƠNG 2: Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp của Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel tại Mozambique (giai đoạn từ 2011 – 2013). CHƢƠNG 3: Đề xuất mục tiêu, chiến lược kinh doanh của Viettel tại Mozambique (giai đoạn từ 2014 – 2020). 8 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUÁ TRÌNH ĐẦU TƢ DỰ ÁN FDI CỦA VIETTEL TẠI MOZAMBIQUE 1.
Khái niệm về đầu tƣ quốc tế Đầu tư quốc tế là một hình thức di chuyển quốc tế về vốn, trong đó vốn được di chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện một hoặc một số dự án đầu tư nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia. Đầu tư của tư nhân (doanh nghiệp) được thực hiện dưới ba hình thức: - Đầu tư trực tiếp nước ngoài - Đầu tư gián tiếp - Tín dụng thương mại Đầu tư quốc tế là một tất yếu khách quan do khả năng và nhu cầu tích lũy vốn của các quốc gia khác nhau là khác nhau, do việc các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường mới hoặc địa điểm sản xuất với chi phí thấp hơn, do việc tránh các hàng rào thuế quan và phi thuế quan cũng như do các nguyên nhân chính trị và kinh tế xã hội khác. Đầu tư quốc tế đưa đến những tác động tích cực nhưng cũng bao gồm cả những tác động tiêu cực khác nhau đối với bên đi đầu tư và bên nhận đầu tư. Tác động theo chiều hướng nào phụ thuộc nhiều yếu tố cả khách quan và chủ quan, trước hết là phụ thuộc vào trình độ tổ chức, quản lý của công ty đi đầu tư và chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài của nước tiếp nhận đầu tư.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một trong những hình thức của đầu tư quốc tế. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành, quản lý đối tượng đó. Phương 9 z diện quản lý là điều kiện để phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài với các công cụ tài chính khác. * Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài: - Doanh nghiệp liên doanh ; - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ; - Hợp đồng hợp tác kinh doanh ; - Đầu tư theo hợp đồng BOT, BTO, BT ; - Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A).
* Ưu điểm của FDI đối với chủ đầu tư : - Chủ đầu tư có khả năng kiểm soát hoạt động sử dụng vốn đầu tư và có thể đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Do đó, vốn đầu tư thường được sử dụng với hiệu quả cao. - Giúp chủ đầu tư nước ngoài tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch và chiếm lĩnh thị trường nước sở tại. - Chủ đầu tư nước ngoài có thể giảm được chi phí, hạ giá thành sản phẩm do khai thác được nguồn nguyên liệu và lao động với giá cả thấp của nước sở tại.
Vì vậy, thông qua thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chủ đầu tư có thể nâng cao được khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới. * Hạn chế của FDI đối với chủ đầu tư : - Chủ đầu tư có thể gặp rủi ro cao nếu không hiểu rõ môi trường đầu tư của nước sở tại. - Có thể xảy ra tình trạng chảy máu chất xám nếu chủ đầu tư nước ngoài để mất bản quyền sở hữu công nghệ, bí quyết sản xuất trong quá trình chuyển giao. Lý thuyết chiết trung Lý thuyết chiết trung là học thuyết được xây dựng từ năm 1977 tới năm 1993, bởi nhà kinh tế học người Anh, John Dunning.
Lý thuyết được xây 10 z dựng dựa trên việc kế thừa tất cả những ưu điểm của các học thuyết khác về đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI. Lý thuyết chiết trung đề xuất rằng một công ty có động cơ để tiến hành đầu tư trực tiếp nước ngoài khi có 3 lợi thế (OLI): lợi thế về sở hữu – ownership advantages, lợi thế địa điểm – location advantage (hay lợi thế riêng của đất nước – country specific advantages) và lợi thế nội bộ hoá – Internalization Incentives. [20] - Lợi thế về sở hữu của một doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một qui trình sản xuất mà doanh nghiệp có ưu thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp khác không thể tiếp cận. Lợi thế sở hữu có thể là một số tài sản vô hình như bằng sáng chế, phát minh, thương hiệu, hoặc công nghệ thông tin tiên tiến.
Đó cũng có thể là khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu thô hoặc nguồn vốn với chi phí thấp. - Lợi thế sở hữu đem lại quyền lực nhất định trên thị trường hoặc lợi thế về chi phí đủ để doanh nghiệp bù lại những bất lợi khi kinh doanh ở nước ngoài. Lợi thế sở hữu có liên hệ mật thiết đến các năng lực về công nghệ, sáng tạo và đến trình độ phát triển kinh tế của các nước chủ đầu tư. - Lợi thế địa điểm là lợi thế khi các doanh nghiệp tiến hành sản xuất ở nước ngoài thay vì sản xuất ở nước chủ đầu tư rồi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài.
Lợi thế về địa điểm không chỉ bao gồm các yếu tố về nguồn lực, mà còn có cả các yếu tố kinh tế và xã hội như: dung lượng, cơ cấu và khả năng tăng trưởng của thị trường và trình độ phát triển, môi trường văn hoá, pháp luật, chính trị và thể chế, và các qui định và các chính sách của chính phủ. - Lợi thế cuối cùng để doanh nghiệp có động cơ đầu tư vào thị trường nước ngoài là lợi thế nội bộ hóa. Nếu một doanh nghiệp sở hữu một sản phẩm hoặc một qui trình sản xuất và việc sản xuất sản phẩm ở nước ngoài có lợi hơn xuất khẩu, hoặc cho thuê, hoặc nhượng quyền thương mại, thì sản phẩm 11 z hoặc quy trình sản xuất đó sẽ được khai thác trong nội bộ doanh nghiệp hơn là đem trao đổi trên thị trường. Đây chính là lợi thế nội bộ hoá.
Lý thuyết chiết trung của Dunning giải thích rằng tại bất cứ thời điểm nào, các doanh nghiệp của một nước, so với các doanh nghiệp của các nước khác, càng nắm giữ nhiều lợi thế, thì họ càng tìm được nhiều lợi ích khi sử dụng chúng ở một nước khác, và họ càng có động cơ để phát triển sản xuất ở nước ngoài. Lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu Lý thuyết này được Micheal Porter nêu ra trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance” về các lợi thế cạnh tranh.Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh khác.Porter thì: “chuỗi giá trị là một tập hợp các hoạt động để đưa một sản phẩm từ khái niệm đến khi đưa vào sử dụng và cả sau đó. Chuỗi giá trị bao gồm các hoạt động như thiết kế mẫu mã, sản xuất, marketing, phân phối và dịch vụ sau khi bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Những hoạt động này có thể được thực hiện trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc được phân phối giữa các doanh nghiệp khác nhau”.
[24] Chuỗi giá trị này có thể được thực hiện trong phạm vi một khu vực địa lý hoặc trải rộng trong phạm vi nhiều quốc gia và trở thành chuỗi giá trị toàn cầu; trong đó sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi một cách tuần tự và tại mỗi hoạt động, sản phẩm sẽ tích lũy thêm một giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động cung cấp cho các sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của tất cả các hoạt động cộng lại. Trong khung phân tích của Porter, khái niệm chuỗi giá trị không trùng với chuyển đổi vật chất. Porter cho rằng tính cạnh tranh của một công ty không 12 z chỉ liên quan đến quy trình sản xuất.
Mô hình chuỗi giá trị này là một tập hợp của nhiều công đoạn hay nhiều khâu khác nhau và có quan hệ với nhau cùng tạo ra giá trị như thiết kế sản phẩm, logistics đầu vào, logistics đầu ra, sản xuất, marketing và bán hàng,các dịch vụ hậu mãi cùng với các hoạt động bổ trợ gia tăng giá trị cho sản phẩm như lập kế hoạch chiến lược, quản lý nguồn nhân lực, hoạt động nghiên cứu,… Với góc độ nghiên cứu này, chuỗi giá trị chỉ áp dụng trong kinh doanh của doanh nghiệp; do vậy phân tích chuỗi giá trị chủ yếu nhằm hỗ trợ các quyết định quản lý và chiến lược điều hành của một doanh nghiệp, một công ty cụ thể. Một cách khác để tìm ra lợi thế cạnh tranh là dựa vào khái niệm hệ thống giá trị; thay vì chỉ phân tích lợi thế cạnh tranh của một công ty duy nhất, có thể xem các hoạt động của công ty như một phần của chuỗi các hoạt động rộng hơn mà Porter gọi là hệ thống giá trị. Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện, bắt đầu từ nguyên liệu thô đến phân phối tới người tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy, khái niệm hệ thống giá trị rộng hơn so với khái niệm chuỗi giá trị của doanh nghiệp.
* Phương pháp tiếp cận toàn cầu Khái niệm các chuỗi giá trị được Gary Gereffi (Đại học Duke – Hoa Kỳ) lần đầu tiên áp dụng để phân tích toàn cầu hoá, tìm hiểu cách thức mà các công ty, các quốc gia tham gia vào quá trình hội nhập toàn cầu và để đánh giá các yếu tố quyết định đến phân phối thu nhập toàn cầu. Năm 2002 hai nhà khoa học Mỹ là Raphael Kaplinsky và Mike Morris đã đưa ra khái niệm: “Chuỗi giá trị toàn cầu là một dây chuyền sản xuất kinh doanh theo phương thức toàn cầu hóa, trong đó có nhiều nước tham gia, chủ yếu là các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau từ thiết kế chế tạo tiếp thị đến phân phối và hỗ trợ người tiêu dùng".