Chương 1 trình bày những nét sơ lược về nghiên cứu. Nhận thấy tầm quan trọng và những tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng, nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá mối quan hệ này dưới tác động của các nhân tố địa phương. Mục đích của bài viết là nhằm trả lời câu hỏi liệu môi trường kinh tế vĩ mô, thu nhập quốc gia và thể chế ở các nước tiếp nhận FDI có thể giải thích cho sự khác biệt về tác động của FDI giữa các quốc gia đang phát triển hay không. Do vậy, nghiên cứu sử dụng mẫu là 44 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1993-2016.
Mặt khác, vì cho rằng các các nhân tố kích thích tăng trưởng cũng có thể tạo ra nhiều vốn FDI hơn nên nghiên cứu lựa chọn giải quyết vấn đề nội sinh và quan hệ nhân quả thông qua việc sử dụng mô hình ước lượng GMM cho dữ liệu bảng. Nghiên cứu cũng sử dụng một loạt các phương pháp kinh tế lượng để kiểm tra tính vững của các ước tính. Ước tinh dữ liệu bảng được sử dụng so sánh các kết quả từ phân tích xuyên quốc gia. Cuối cùng, toàn bộ mẫu được chia thành ba nhóm đối với các nước thu nhập thấp, trung bình thấp và thu nhập trung bình cao để điều tra xem liệu các nền kinh tế với trình độ phát triển khác nhau sẽ có được mức độ lan truyền từ FDI như thế nào.
123doc 11 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI (FDI) VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.1 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - FDI: Theo Quỹ tiền tệ quốc tế IMF thì FDI được định nghĩa là hình thức đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp ở một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải bằng 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp. Theo định nghĩa của Tổ chức thương mại Thế giới thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là khoản đầu tư của một công ty hoặc cá nhân ở một nước có lợi ích kinh doanh ở một nước khác dưới hình thức thành lập hoạt động kinh doanh hoặc mua lại tài sản kinh doanh ở nước khác, như quyền sở hữu hoặc kiểm soát lợi ích công ty nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân biệt với các khoản đầu tư vào danh mục đầu tư, trong đó nhà đầu tư chỉ mua cổ phiếu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài.
Đặc điểm chính của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nó là một khoản đầu tư tạo ra việc kiểm soát có hiệu quả, hoặc ít nhất là ảnh hưởng đáng kể đến việc ra quyết định của một doanh nghiệp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được thực hiện ở các nền kinh tế mở, trái với các nền kinh tế được điều tiết chặt chẽ, cung cấp lực lượng lao động lành nghề và triển vọng tăng trưởng trung bình cho nhà đầu tư. Đầu tư trực tiếp nước ngoài thường đòi hỏi nhiều hơn là đầu tư vốn. Nó cũng có thể bao gồm cung cấp quản lý hoặc công nghệ.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được thực hiện bằng nhiều cách, bao gồm việc mở công ty con hoặc công ty liên kết ở nước ngoài, mua lại quyền kiểm soát tại một công ty nước ngoài hiện tại, hoặc bằng cách sáp nhập hoặc liên doanh với một công ty nước ngoài. Ngưỡng cho một đầu tư trực tiếp nước ngoài tạo ra lợi ích chi phối, theo hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế ( OECD ), là cổ phần sở hữu tối 123doc 12 thiểu 10% trong một công ty nước ngoài, thường đại diện cho nhà đầu tư mua lại 10% trở lên cổ phần phổ thông hoặc cổ phần có quyền biểu quyết của công ty nước ngoài. Tuy nhiên, định nghĩa này rất linh hoạt, vì có những trường hợp mà quyền kiểm soát hiệu quả trong một công ty có thể được thiết lập với ít hơn 10% cổ phần có quyền biểu quyết của công ty. Các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được phân loại là ngang, dọc hoặc tập đoàn.
Đầu tư trực tiếp theo chiều ngang đề cập đến nhà đầu tư thành lập cùng loại hình hoạt động kinh doanh ở nước ngoài khi hoạt động ở nước mình, ví dụ một nhà cung cấp điện thoại di động có trụ sở tại Hoa Kỳ mở cửa hàng ở Trung Quốc. Đầu tư theo chiều dọc là hoạt động kinh doanh chính của các nhà đầu tư được thành lập hoặc mua lại ở nước ngoài, chẳng hạn như khi một công ty sản xuất mua cổ phần tại một công ty nước ngoài cung cấp phụ tùng hoặc nguyên vật liệu cần thiết cho công ty sản xuất Để làm cho sản phẩm của mình. Một loại hình đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là một trong những nơi mà một công ty hoặc một cá nhân đầu tư nước ngoài vào một doanh nghiệp không liên quan đến hoạt động kinh doanh hiện có ở nước sở tại. Do loại hình đầu tư này liên quan đến việc nhập vào một ngành mà nhà đầu tư không có kinh nghiệm trước đây nên thường có hình thức liên doanh với một công ty nước ngoài đã hoạt động trong ngành.2 Về tăng trưởng kinh tế: Theo định nghĩa của Simon Kuznet (1996) thì tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người”, theo Douglass C.
North và Robert Paul Thomas (1973) thì “tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”. Các nhà kinh tế học đã sử dụng hai chỉ tiêu tăng sản phẩm quốc dân (GNP) và tăng sản lượng quốc nội (GDP) để đo lường tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế. Tuy nhiên, trong hầu hết các bài nghiên cứu thực nghiệm về tăng trưởng kinh tế đều sử dụng chỉ tiêu GDP làm đối tượng nghiên cứu. 123doc 13 Tổng sản lượng quốc nội (GDP) được định nghĩa là giá trị thị trường của tất cả hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm).
Đây là giá trị cho biết mức độ lao động sản xuất hiệu quả của một quốc gia, nó là chỉ số đo lường sức mạnh kinh tế của một đất nước.3 Về thể chế Thể chế là một khái niệm phức tạp và được xem xét dưới những góc độ khác nhau. Định nghĩa kinh điển nhất được đưa ra bởi nhà kinh tế học người Đức - Adolph Wagner cho rằng: "Thể chế là các khế ước, các hợp đồng và luật lệ thành văn đang cai quản đời sống và con người". North, người được giải Nobel với công trình nghiên cứu “Kinh tế và Thể chế” năm 1993, cho rằng “Thể chế là những giới hạn được vạch ra trong phạm vi khả năng và hiểu biết của con người hình thành nên mối quan hệ qua lại của con người”. Đầu thế kỷ XX, ở phương Tây xuất hiện một khuynh hướng chính trị mới - khuynh hướng chủ nghĩa thể chế - quan niệm thể chế là bất kỳ liên hiệp bền vững nào của con người nhằm đạt được mục đích nhất định nào đó.
Quan niệm này tương đối giống với cách hiểu của Ngân hàng thế giới về thể chế, cho rằng thể chế bao hàm ba nội dung quan trọng nhất, đó là luật chơi, cơ chế thực thi và tổ chức. Vậy nên thể chế là tập hợp các quy tắc điều chỉnh xã hội và là kết quả của những thỏa thuận xã hội. Thể chế mang tính bản chất và là một đối tượng có tính sở hữu rõ ràng: nó thể hiện một cách sâu sắc khuynh hướng chính trị mà đảng cầm quyền đã lựa chọn. Thảo luận chính sách gần đây của FETP (“Khơi thông những nút thắt thể chế để phục hồi tăng trưởng”.
Bài thảo luận chính sách tại Chương trình Lãnh đạo Quản lý Cao cấp (VELP) tại trường Quản lý Nhà nước Harvard Kennedy tháng 8/2013) cho rằng thể chế yếu kém chính là nguyên nhân sâu xa đã dẫn tới nhừng bất ổn của nền kinh tế và nguy cơ suy thoái kinh tế hiện nay. Các nguy cơ về kinh tế, chính trị và xã hội ngày nay đều có thể lý giải được bởi những cuộc cải cách thể chế bị trì hoãn 123doc 14 hoặc chưa được tiến hành triệt để trong quá khứ. Để phục hồi tăng trưởng, cần tận dụng những cơ hội cải cách thể chế trong các năm tới để tiếp tục trao quyền kinh tế và chính trị mạnh mẽ hơn cho người dân.4 Về môi trường kinh tế vĩ mô Kinh tế vĩ mô là hệ thống kinh tế của cả một quốc gia, với các chỉ tiêu đo lường “sức khỏe” của nền kinh tế như tốc độ tăng trưởng, thu nhập, thất nghiệp, lạm phát,. Kinh tế học vĩ mô là một bộ phận của khoa học kinh tế nghiên cứu sự vận động và những mối liên hệ kinh tế chủ yếu của một đất nước trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân của một đất nước, nghĩa là nghiên cứu sự lựa chọn của mỗi quốc gia trước các vấn đề kinh tế cơ bản bao gồm: thất nghiệp, lạm phát, tăng trưởng, xuất nhập khẩu, sự phân phối nguồn lực và thu nhập giữa các thành viên trong nền kinh tế.
Mục tiêu của kinh tế vĩ mô cơ bản là đạt được sự ổn định trong ngắn hạn, tăng trưởng nhanh trong dài hạn, phân phối của cải một cách công bằng. Sự ổn định là kết quả của việc giải quyết những vấn đề kinh tế cấp bách như lạm phát, thất nghiệp. Tăng trưởng kinh tế đòi hỏi giải quyết các vấn đề dài hạn hơn liên quan đến sự phát triển kinh tế. Phân phối công bằng là vấn đề nền kinh tế phải giải quyết thường xuyên để đảm bảo sự ổn định và tăng trưởng.2 Các lý thuyết về vai trò của vốn đầu tư lên tăng trưởng kinh tế Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng và phát triển ở mọi quốc gia.
Một điều hiển nhiên rằng, để một quốc gia có thể tăng trưởng và phát triển, một lượng vốn cần thiết phải được tích lũy nhằm tạo ra các yếu tố cơ bản cho quá trình sản xuất Riêng đối với các nước đang phát triển, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, cần phải có một khối lượng vốn rất lớn. Ngoài nguồn vốn đầu tư trong nước là nguồn cơ bản đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế một cách liên tục, đưa đất nước đến sự phồn vinh một cách chắc chắn và lâu bền thì việc tăng cường huy động các nguồn vốn nước ngoài để bổ sung có ý nghĩa rất quan trọng.