CHƯƠNG 1 NHUNG VAN ĐÈ CƠ BẢN VẺ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 'TRONG ĐOANH NGHIỆP 1.1, Khái niệm năng lực cạnh tranh Có thể thấy KTTT là một nền kinh tế hiện đại, năng động, góp phần mang lại nhiều thành tựu cho sự phát triển của nhân loại. KTTT hoạt động dưới tác động tổng hợp của các quy luật kinh tế. nhất là quy luật cạnh tranh - là động lực chính trong việc phát triển nên kinh tế thị trường. Các quy luật này đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự thích nghỉ với những biển đổi của sự thay đổi của thị trường để tổn tại vả phát triển, 1.
Khái niệm và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh 1.1, Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Để có thể cạnh tranh thắng lợi và đạt hiệu quả thì mỗi doanh nghiệp cần có năng lực cạnh tranh nhất định. Như thế nào là năng lực cạnh tranh? Mỗi học giả và các chuyên gia đưa ra một khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh và chưa có sự nhất trí về khái niệm này. Khi các đổi tượng cạnh tranh với nhau để giành năng lực về phía mình.
các đối tượng phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì vả phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nhất định, một khá năng nhất định hoặc một năng lực nhất định của đổi tượng được gọi là năng lực cạnh tranh của đối tượng đó. Khi muốn chỉ một sức mạnh. một kha năng duy trì được vị trí của một hàng, hoá nào đó trên thị trường người ta cũng dùng thuật ngữ năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa.
đó cũng là chỉ mức độ hấp dẫn của sản phẩm hàng hoá đó đối với khách hàng. Có tác giả sau khi phân tích bản chất năng lực cạnh tranh đã đi đến kết luận *Năng. lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và năng lực so sánh của nó so với đối thủ khác trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày cảng cao cho doanh nghiệp của mình” (Porter, 2008. trang 32), “Có quan điểm đã cho rằng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng giảnh được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định” (Từ điển Kinh doanh 1992, trang 22), Dựa trên những nghiên cứu trước đây, tác giả định nghĩa năng lực cạnh tranh của đoanh nghiệp như sau: “Năng lực canh tranh của doanh nghiên là khả năng cung cần đa sản nhằm Năng lực cạnh tranh được phân biệt với các mức độ năng lực cạnh tranh khác nhau là năng lực cạnh tranh của hảng hóa.
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của quốc gia. Năng lực cạnh tranh của hàng hóa là năng lực cạnh tranh đơn vị cơ bản sản phẩm nảo đó của một công ty, doanh nghiệp hoặc cả nhân. Nó được gắn trực tiếp với các điều kiện, công cụ và biện pháp cấu thảnh hàng hóa dùng cho việc cạnh tranh với nhau nhằm gianh khách hàng, chiếm lĩnh thị trường và đem lại lợi ích cho đối tượng tham gia thị trường cạnh tranh. Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh của quốc gia là “Khả năng cạnh tranh của một quốc gia là khả năng đạt và duy trì được mức tăng trưởng trên cơ sở các chính sách thể chế vững bên tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”.
Năng lực canh tranh của doanh nghiệp là năng lực cạnh tranh của một tổ chức chặt chẽ với nhiều mặt hàng khác nhau. Năng lực cạnh tranh của hảng hóa là một yếu tổ cấu thành nên nãng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong khi đỏ, nãng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thê diễn ra khi họ cung ứng sản phẩm giếng nhau hoặc khác nhau hoặc sản phẩm thay thể cho nhau. Củng một thị trường, doanh nghiệp nào có sản phẩm chiếm lĩnh thị trường tốt hơn, tiêu thụ tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh hoặc đoanh nghiệp khác thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao hơn.
Một quốc gia có năng lực cạnh tranh doanh nghiệp cao thì năng lực cạnh tranh quốc gia cao hay nói năng lực cạnh tranh của quốc gia là tổng hợp các năng lực cạnh tranh của các đoanh nghiệp trong quốc gia đó. Do vậy, để nãng cao năng lực cạnh tranh của một quốc gia cẩn nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trong quốc gia đó. Sự cần thiết năng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp. Trong điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thể giới với nền KTTT hiện nay, các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh gay gắt để tồn tại và phát triển.
Không chỉ cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước mà cần phải cạnh tranh với các tập đoàn lớn và các doanh nghiệp nước ngoài. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải tạo cho mình một khả năng cạnh tranh đủ vững mạnh để có thẻ cạnh tranh hiệu quả trên thị trường hiện nay. Nếu doanh nghiệp không đủ năng lực để cạnh tranh thì có thể bị loại bỏ ngay trên thị trường. Cho nên đoanh nghiệp phải không ngừng tìm kiểm các yếu tố để cấu tạo niên sự cạnh tranh mạnh của doanh nghiệp và các biện pháp cạnh tranh phù hợp.
đổi mới nhằm nang cao nang lực cạnh tranh so với các đối thủ cạnh tranh thì mới phát Việc nâng cao năng lực cạnh tranh cúa doanh nghiệp giúp cho năng lực cạnh tranh của quốc gia tăng lên nhờ việc tạo ra được những sản phẩm, dịch vụ ngây cảng tốt hơn với giá rẻ hơn và làm cho nên kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được tốt đẹp hơn. Vì thể, ngoài việc nâng cao năng lực cạnh tranh tầm quốc gia thì nhà nước cũng cần có sự hỗ trợ bằng cách hoàn thiện các cơ chế chính sách. hệ thông pháp luật nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh. công bằng cho các doanh nghiệp.
Đồng thời, thông qua việc gia nhập các tổ chức quốc tế vẻ hội nhập và xúc tiến thương mại tạo sự thuận lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa. Trong nên KTTT với đặc trưng cơ bản là cạnh tranh thì năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ thì năng lực cạnh tranh ngày cảng mang tính quyết định hơn bao giờ hết. Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt, mỗi doanh nghiệp cần tìm các biện pháp thích hợp để nâng cao năng lực cạnh tranh và vươn lên trên các đối thủ.
Nỗ lực của mỗi doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành và quốc gia. Năng lực cạnh tranh và sự phát triển của đoanh nghiệp tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau. Nâng cao năng lực cạnh tranh cũng là nâng cao sự phát triển của doanh nghiệp được thể hiện như sau: - Nang cao nang lực cạnh tranh giúp doanh nghiệp thúc đẩy sự phát triển bởi năng lực cạnh tranh và tốc độ phát triển của doanh nghiệp tỷ lệ thuận với nhau. Giúp doanh nghiệp có thể tham gia vào thị trường một cách chủ động cả vẻ chiều rộng và chiều sâu.
-_ Đồng thời, khi doanh nghiệp đứng vững trên thị trường với sự uy tín và thành tựu đó giúp cho đoanh nghiệp có thêm các cơ hội kinh doanh khác và có đủ khả năng về nguồn lực để tiếp cận những tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ mới vẻ tổ chức quản lý. Có thể thấy, với sự phát triển hiện nay thì các doanh nghiệp phải luôn luôn tìm cách để nâng cao năng lực cạnh tranh, sẵn sàng nắm lấy cơ hội và đủ khả năng đối mặt với sự thách thức để tồn tại và phát triển. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh có các cấp độ khác nhau và có mối quan hệ mật thiết với nhau để tạo điều kiện vả phụ thuộc lẫn nhau.
Cỏ thể phân chỉa năng lực cạnh tranh thành bốn mức độ như sau: Năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực canh tranh sản phẩm. Năng lực can 1. Năng lực cạnh tranh quốc gia *Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu” (Lợi thế cạnh tranh quốc gia, M. Theo Asia Development Outlook (2003) “Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trưởng quốc tế.
Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm vả dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó”. Theo diễn đàn Kinh tế thể giới (WEF) (1997, trang 1) thì “Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu là sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được vả duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối vả các đặc trưng kinh tế khác". ‘Theo WEF (2016, trang 2) “Nang lực cạnh tranh của quốc gia được đo bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nha nước, vai trò của thị trường tải chính, môi trưởng công nghệ, kết cấu hạ tẳng, chất lượng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh họat của thị trường lao động, môi trường pháp lý”.
Năng lực canh tranh cắp ngành. Một quốc gia có năng lực cạnh tranh cao, nền kinh tế phát triển thì các doanh nghiệp trong quốc gia đó có năng lực cạnh tranh cao, Do đó có thể hiểu, năng lực cạnh tranh cấp ngành là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh và lợi nhuận doanh nghiệp thu được trong thị trưởng cạnh tranh đó. Ngoài ra còn một số tiêu chí khác như là: nguồn lực, công nghệ. và chất lượng sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và một số dich vụ di kèm của đoanh nghiệp.
Theo mô hình kim cương của Micheal Porter (1990) “Lợi thể cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong nội bộ doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoải trong mỗi trường kinh doanh quốc gia bao sồm: các điều kiên về vếu tố sản xuất. sức cầu về hàng hóa. các ngành nhu trợ.