Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chương 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu. Chương 3: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê. Chương 4: Định hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN Trong thời gian gần đây đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh (NLCT) của doanh nghiệp. Trong đó, có thể chỉ ra một số nghiên cứu sau: - Sách tham khảo: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay”, do TS Nguyễn Hữu Thắng chủ biên, Viện quản lý kinh tế - Học viện chính trị Quốc gia Hà Nội, 2008. Cuốn sách này đã làm rõ các vấn đề: + Một số vấn đề lý luận chung về NLCT của doanh nghiệp trong kinh tế thị trƣờng và hội nhập kinh tế hiện nay.
+ Thực trạng doanh nghiệp và NLCT của doanh nghiệp Việt Nam. + Một số quan điểm, phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao NLCT của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. - Sách “Chính sách kinh tế và NLCT của doanh nghiệp”, do TS. Đinh Thị Nga chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011 Sách gồm 3 chƣơng: + Chƣơng 1: Tác động của hệ thống chính sách kinh tế đến NLCT của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập - Những vấn đề về lý luận và kinh nghiệm quốc tế.
+ Chƣơng 2: Thực trạng tác động của hệ thống chính sách của Nhà nƣớc đến NLCT của doanh nghiệp Việt Nam + Chƣơng 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách kinh tế của Nhà nƣớc nhằm nâng cao NLCT của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập. 4 - Sách: “Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO”, PGS.TS Vũ Văn Phúc chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2011 Cuốn sách phản ánh thực trạng NLCT của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO qua nhiều cách tiếp cận theo ngành, theo lĩnh vực, theo loại hình doanh nghiệp. Đây là một thời gian không quá dài nhƣng cũng đủ để đánh giá sức mạnh nội lực của các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, đồng thời cũng đƣa ra một số giải pháp, kiến nghị và bài học kinh nghiệm để giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao NLCT một cách lành mạnh và bền vững. Phần I: Những vấn đề chung Phần II: Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO - Thực trạng, giải pháp, kiến nghị Phần III: Kinh nghiệm từ thực tiễn - Bài viết: “Nâng cao NLCT của doanh nghiệp trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập số 2(12) -tháng 1-2/2012.
Bài viết này đã chỉ rõ bản chất của cạnh tranh là tối đa hoá lợi nhuận. Cạnh tranh kinh tế ở cả 3 cấp độ: nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm “kiến tạo”nên NLCT của nền kinh tế. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đã đƣợc đề cập nhiều song hiện vẫn còn chƣa có sự thống nhất cao, bởi: nói đến NLCT là cần xem xét điều kiện, bối cảnh phát triển đất nƣớc trong từng thời kỳ cụ thể, đồng thời NLCT phải thể hiện khả năng “đua tranh”, “tranh giành”giữa các doanh nghiệp và phải thể hiện bằng phƣơng thức hay cách thức cạnh tranh phù hợp.
Tác giả cũng chỉ rõ cần phải nghiên cứu cạnh tranh diễn ra cả ở trong lĩnh vực sản xuất lẫn trong lĩnh vực trao đổi và trên thị trƣờng. - Bài viết: “Khủng hoảng kinh tế - Cơ hội nâng cao NLCT của doanh nghiệp”TS. Lê Chí Hiếu. Trong bài viết này, tác giả đã chỉ rõ: doanh nghiệp Việt Nam là một lực lƣợng còn rất non trẻ, chỉ mới thực sự xuất hiện trong hơn 30 năm gần đây nhờ vào 5 chính sách đổi mới của Nhà nƣớc.
Bởi vậy, doanh nghiệp Việt Nam có những đặc điểm nhƣ những thiếu niên mới chập chững bƣớc ra thế giới cạnh tranh kinh tế thì phải đƣơng đầu ngay với sóng gió, giông bão của biển khơi trong quá trình hội nhập, chƣa kể những tàn phá khủng khiếp của các đợt khủng hoảng kinh tế tài chính đang xảy ra. Tuy nhiên vấn đề nào cũng có tính 2 mặt, khủng hoảng vừa là thách thức nhƣng cũng chính là cơ hội để các doanh nghiệp thay đổi, tồn tại và phát triển. Cần biết phát huy điểm mạnh và chủ động cải cách, tái cơ cấu lại bộ máy, sửa đổi khắc phục các yếu kém; thay đổi để thích nghi với môi trƣờng mới giúp doanh nghiệp tồn tại, vƣợt qua khủng hoảng và nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Trong đó, các doanh nghiệp trong nƣớc cần chú trọng 4 vấn đề lớn sau: nguồn vốn, công nghệ, nguồn nhân lực và các giá trị vô hình.
- Bài viết: “Phân tích một số yếu tố cấu thành NLCT của doanh nghiệp”- ThS. Ngô Thanh Hoa bộ môn Quản trị kinh doanh khoa Vận tải - Kinh tế trƣờng Đại học Giao thông vận tải. - Bên cạnh đó, có rất nhiều tác giả chọn đề tài NLCT làm đối tƣợng nghiên cứu luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ. Trong đó, có thể kể ra những công trình sau: + Luận án tiến sĩ của Ngô Thị Tuyết Mai năm 2007: Nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
+ Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Quang Trung: Nâng cao NLCT của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh Bắc Giang từ năm 2006 - 2010. + Luận văn thạc sĩ của tác giả Mai Thị Thanh Hòa: Nâng cao NLCT của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Các công trình trên đã tiếp cận NLCT với những góc độ và cấp độ khác nhau đồng thời làm rõ phần nào lý luận và thực tiễn NLCT và nâng cao NLCT của doanh nghiệp nói chung và năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ cụ thể của doanh nghiệp. Tuy nhiên cho đến nay, chƣa có đề tài nào nghiên cứu về nâng cao NLCT của Công ty cổ phần Xi măng Kiện Khê.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh có nhiều cách hiểu khác nhau. Xét một cách khái quát và dễ hiểu, cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành sự tồn tại, sống còn, giành đƣợc lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thƣởng hay các thứ khác.
Xét trên cấp độ doanh nghiệp, cạnh tranh là sự cố gắng chiếm lấy nhiều thị phần về doanh nghiệp mình từ các đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh là yếu tố tất yếu khách quan trong kinh doanh nhằm đào thải những thành viên yếu kém trên thị trƣờng, giữ lại những thành viên có năng lực. Nhờ có cạnh tranh mà các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lƣợng, đổi mới sản phẩm, đa dạng hóa dịch vụ nhằm mang lại sự hài lòng cho khách hàng. Cạnh tranh chính là môi trƣờng, là động lực của sự phát triển xã hội.
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất. Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
Theo quan điểm của Diễn đàn OECD (2000) thì: Cạnh tranh được hiểu là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Với những quan niệm trên, phạm trù cạnh tranh đƣợc hiểu là quan hệ kinh tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế của mình. Mặc dù còn có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể rút 7 ra những nét chung về cạnh tranh: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một nhóm) ngƣời nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Cạnh tranh nâng cao vị thế của ngƣời này và làm giảm vị thế của những ngƣời còn lại.
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tƣợng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (nhƣ một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay một thị trƣờng, một khách hàng.) với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trƣờng cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia buộc phải tuân thủ nhƣ: đặc điểm sản phẩm, thị trƣờng, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, những chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lƣợng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); dịch vụ bán hàng, hình thức thanh toán … Qua đó, có thể khái quát khái niệm cạnh tranh nhƣ sau: Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh, tìm mọi biện pháp, phương thức và các cách thức tiến hành với mục đích là giành được sự tồn tại, khẳng định được ưu thế, hơn hẳn đối thủ, nhà cung cấp khác về lợi thế, kết quả, danh tiếng, lợi nhuận, địa vị hay những thứ khác mà doanh nghiệp mong muốn đạt được trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhƣ vậy, công cụ cạnh tranh đƣợc nhắc đến nhƣ là những yếu tố tối quan trọng trong cạnh tranh của doanh nghiệp.