phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty xăng dầu Phú Thọ. Chƣơng 3: Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty xăng dầu Phú Thọ. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm cạnh tranh Trong hầu hết các mặt của của cuộc sống cạnh tranh luôn diễn ra và là động lực của sự phát triển, thuật ngữ “Cạnh tranh” đƣợc sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực nhƣ kinh tế, thƣơng mại, luật, chính trị, quân sự, thể thao. Trong lĩnh vực kinh tế, sự cạnh tranh càng thể hiện rõ nét hơn và là yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Hiện nay có rất nhiều các định nghĩa về cạnh tranh trong kinh tế: - Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: "Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất" [21,tr. - Theo quan điểm của Karl Marx: “Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch” [19, tr.
- Theo nhà kinh tế học người Mỹ Michael Porter: “Cạnh tranh là sự tranh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật thị trường hoặc khách hàng” [22,tr. Có thể định nghĩa: cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ, tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hƣớng cải thiện dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
7 z Cạnh tranh kinh tế là một quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá vì nó xuất phát từ quy luật giá trị của sản xuất hàng hoá. Trong sản xuất hàng hoá, sự tách biệt tƣơng đối giữa những ngƣời sản xuất, sự phân công lao động xã hội tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh để giành đƣợc những điều kiện thuận lợi hơn nhƣ gần nguồn nguyên liệu, nhân công rẻ, gần thị trƣờng tiêu thụ, giao thông vận tải tốt, khoa học kỹ thuật phát triển. nhằm giảm mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết để thu đƣợc nhiều lãi. Cạnh tranh buộc những nhà sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, tổ chức quản lý để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lƣợng hàng hóa, dịch vụ, giảm giá thành, đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Cạnh tranh cũng là một nhu cầu tất yếu của hoạt động kinh tế trong cơ chế thị trƣờng, nhằm mục đích chiếm lĩnh thị phần, tiêu thụ đƣợc nhiều sản phẩm hàng hoá để đạt đƣợc lợi nhuận cao nhất. Ở góc độ thƣơng mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp và các ngành kinh doanh nhằm chiếm đƣợc sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Trong cơ chế thị trƣờng các doanh nghiệp đƣợc chủ động đƣa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phƣơng thức sản xuất, phân phối và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ, cũng do vậy mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên quyết liệt hơn. Vai trò và chức năng của cạnh tranh - Vai trò của cạnh tranh Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung phạm trù cạnh tranh hầu nhƣ không tồn tại giữa các doanh nghiệp, các doanh nghiệp hầu nhƣ đƣợc Nhà nƣớc bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạt động, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm và thiệt hại kinh tế cũng thuộc về Nhà nƣớc.
Điều này đã tạo ra lối mòn trong kinh doanh, sự trì trệ, ỉ lại, các doanh nghiệp không phải tìm kiếm khách hàng mà khách hàng tự tìm đến doanh nghiệp. Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trƣờng thì vấn đề cạnh tranh có vai trò đặc biệt quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với ngƣời tiêu dùng cũng nhƣ nền kinh tế quốc dân nói chung. 8 z + Đối với nền kinh tế quốc dân: cạnh tranh là môi trƣờng và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, góp phần phân bổ nguồn lực có hiệu quả thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực một cách tối ƣu nhất. Cạnh tranh cũng là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, góp phần phân phối lại thu nhập, nâng cao phúc lợi xã hội.
+ Đối với doanh nghiệp: bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc dẫn đầu về chất lƣợng, mẫu mã, cũng nhƣ áp lực bị phá sản nếu đứng lại, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải có những chiến lƣợc cạnh tranh cụ thể và lâu dài ở cả tầm vi mô và vĩ mô. Các doanh nghiệp giành những lợi thế cạnh tranh cho mình bằng cách luôn cải tiến, đổi mới công nghệ, phƣơng pháp sản xuất, quản lý, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lƣợng, hạ giá thành sản phẩm. + Đối với người tiêu dùng: nhờ có cạnh tranh mà sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra ngày càng đƣợc nâng cao về chất lƣợng, phong phú về chủng loại, mẫu mã. Cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, đảm bảo cả nhà sản xuất lẫn ngƣời tiêu dùng không thể áp đặt đƣợc giá cả một cách tùy tiện.
Cạnh tranh chính là yếu tố điều tiết quan hệ cung cầu trên thị trƣờng góp phần đƣa giá cả sản phẩm, dịch vụ gần với lợi ích của ngƣời tiêu dùng hơn. - Chức năng của cạnh tranh Cạnh tranh có thể mang lại lợi ích cho ngƣời này và gây thiệt hại cho ngƣời khác, tuy nhiên nếu xét dƣới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác dụng tích cực: + Cạnh tranh điều tiết việc sử dụng các nguồn lực cho sản xuất một cách hợp lý và hiệu quả nhất, đảm bảo cân bằng giữa cung và cầu trên thị trƣờng. + Cạnh tranh tạo ra môi trƣờng thuận lợi để sản xuất thích ứng với sự biến động của nhu cầu thị trƣờng và công nghệ sản xuất. Cạnh tranh thúc đẩy sự sáng tạo, cải tiến, đổi mới công nghệ, góp phần nâng cao năng lực sản xuất.
+ Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập, hạn chế hành vi bóc lột trên cơ sở quyền lực thị trƣờng và việc hình thành thu nhập không tƣơng xứng với giá trị sản xuất ra. Các loại hình cạnh tranh Trên thị trƣờng cạnh tranh diễn ra dƣới rất nhiều hình thức khác nhau, có thể phân loại cạnh tranh theo các tiêu chí nhƣ sau: - Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh trên thị trƣờng: + Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh có những đặc điểm: trên thị trƣờng có vô số ngƣời bán, ngƣời mua độc lập với nhau, trong đó mỗi ngƣời bán và ngƣời mua đều không đủ lớn để tác động đến giá cả của thị trƣờng, mỗi chủ thể tham gia hoặc rút khỏi thị trƣờng đều không ảnh hƣởng đến thị trƣờng; sản phẩm đồng nhất; thông tin đầy đủ, cả ngƣời bán và ngƣời mua để hiểu biết về sản phẩm và trao đổi sản phẩm; không có rào cản trong việc tham gia hoặc rút khỏi thị trƣờng. Trong thị trƣờng cạnh tranh hoàn hảo, doanh nghiệp là ngƣời chấp nhận giá, mọi sản phẩm đều có thể bán hết với mức giá hiện hành trên thị trƣờng, giá cả là do quan hệ cung cầu trên thị trƣờng quyết định. Vì vậy, doanh nghiệp không thể bán đƣợc sản phẩm ở mức giá cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác.
+ Cạnh tranh không hoàn hảo: đây là hình thức cạnh tranh phổ biến trên thị trƣờng mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chi phối đƣợc thị trƣờng thông qua các hình thức quảng cáo, khuyến mại, các dịch vụ trong và sau khi bán hàng…Trong thị trƣờng này không có cạnh tranh về giá cả mà một số ngƣời bán toàn quyền quyết định giá. Họ có thể định giá cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của sản phẩm, nhằm mục đích cuối cùng là thu đƣợc lợi nhuận tối đa. Trên thị trƣờng cạnh tranh không hoàn hảo phần lớn các sản phẩm là không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét chất lƣợng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhƣng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều. Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: - Cạnh tranh độc quyền: là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể có ảnh hƣởng lớn, có thể ép tất cả các đối tác phải bán hoặc mua sản phẩm của mình với giá cao và những ngƣời này có thể làm thay đổi giá thị trƣờng.
Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độc quyền mua. Độc quyền bán là trên thị trƣờng có ít ngƣời bán và nhiều ngƣời mua. Còn độc quyền mua thì ngƣợc lại có nhiều ngƣời bán và ít ngƣời mua. 10 z - Độc quyền tập đoàn: hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít ngƣời sản xuất.
Đặc điểm cơ bản nhất của độc quyền tập đoàn là chỉ có ít hãng cạnh tranh trực tiếp, các hãng phụ thuộc chặt chẽ với nhau, tốc độ phản ứng của thị trƣờng là rất nhanh, việc tham gia vào sản xuất kinh doanh của các hãng mới là rất khó khăn. Với hình thức cạnh tranh này giá cả của sản phẩm bị chi phối bởi một số ít những tập đoàn sản xuất kinh doanh các sản phẩm độc quyền. - Căn cứ theo các chủ thể tham gia cạnh tranh: + Cạnh tranh giữa người bán và người mua: là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình.