phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH MTV Ứng dụng Kỹ thuật và Sản xuất. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH MTV Ứng dụng Kỹ thuật và Sản xuất. z 16 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh đƣợc sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực nhƣ chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự… Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, thuật ngữ cạnh tranh đƣợc tiếp cận dƣới góc độ kinh tế.
Có khá nhiều quan niệm khác nhau về cạnh tranh kinh tế, dƣới đây là một số quan niệm tiêu biêu: Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lê nin (2002): “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đầu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất - kinh doanh với nhau nhằm dành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất - kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ để thu đƣợc nhiều lợi ích nhất cho mình. Mục tiêu của cạnh tranh là dành lợi ích, lợi nhuận lớn nhất, bảo đảm sự tồn tại và phát triển của chủ thể tham gia cạnh tranh” [4, 20]. Samuelson “cạnh tranh là sự đối đầu giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị phần” [33, 35].E (1980), “cạnh tranh hiểu theo cấp độ doanh nghiệp, là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của doanh nghiệp”. Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh trong khái niệm này không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh [30, 28].
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hóa, giữa các thƣơng nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, bị chi phối bởi các quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuật, tiêu thụ, thị trƣờng có lợi nhất”. z 17 Theo từ điển Kinh tế kinh doanh Anh Việt: “Cạnh tranh là sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trƣờng để dành đƣợc nhiều khách hàng, do đó nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thƣờng là bằng cách bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lƣợng hàng hóa tốt nhất” [12, 217]. Cạnh tranh đƣợc sản sinh từ nhu cầu tối đa hóa lợi nhuận, thỏa mãn lợi ích kinh tế của con ngƣời, cạnh tranh sẽ không xuất hiện khi lợi nhuận không phải là mục đích cuối cùng. Tuy nhiên, cạnh tranh chỉ vận hành khi có môi trƣờng cạnh tranh và mội trƣờng cạnh tranh đó đƣợc hình thành trong nền kinh tế thị trƣờng.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, luật pháp cho phép tốn tại nhiều dạng sở hữu, thành phần kinh tế khác nhau cùng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Các chủ thể kinh tế khách nhau có khả năng về tổ chức sản xuất, quản lý, các yếu tố đầu vào sản xuất khác nhau và trong điều kiện nguồn lực khan hiếm, mọi chủ thể kinh tế đều tiến tới tới đa hóa lợi ích và lợi nhuận thì cạnh tranh là điều tất yếu nếu doanh nghiệp không muốn bị đào thải khỏi thị trƣờng. Theo Krugman “cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp có ranh giới cận dƣới rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì không trƣớc thì sau sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản”. Các quy luật kinh tế cơ bản của kinh tế thị trƣờng nhƣ quy luật cạnh tranh, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật giá cả tạo môi trƣờng tốt cho cạnh tranh xuất hiện, tồn tại và phát triển.
Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp cơ chế cạnh tranh trong những điều kiện của kinh tế thị trƣờng chƣa thực sự đƣợc vận hành hiệu quả, thậm chí có thể bị tắc nghẽn do những thất bại của chính thị trƣờng, đòi hỏi sự can thiệp của Nhà nƣớc. Điều tiết của Nhà nƣớc nhằm khắc phục những thất bại của thị trƣờng, tạo điều kiện cho cơ chế cạnh tranh vận hành hiệu quả là cần thiết. Các chính sách điều tiết của Nhà nƣớc phải đƣợc, xây dựng trên nguyên tắc tạo môi trƣờng cạnh tranh thông thoáng, bình đẳng, lành mạnh nhằm tránh thất bại của thị trƣờng gây tổn hại đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.2 Phân loại cạnh tranh Căn cứ theo hình thái cạnh tranh, có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo. - Cạnh tranh hoàn hảo là cạnh tranh trong đó giá cả của một hàng hóa của doanh nghiệp không có khả năng chi phối, làm thay đổi giá cả của hàng hóa đó trên thị trƣớng.
- Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh trong đó một số nhà sản xuất có đủ sức mạnh chi phối giá cả sản phẩm trên thị trƣờng. Căn cứ theo loại thị trường nợi hoạt động cạnh trạnh diễn ra, có cạnh tranh trên các thị trƣờng đầu vào nhằm giành đƣợc các nguồn lực sản xuất có chất lƣợng tốt và chi phí thấp nhất; cạnh tranh trên thị trƣờng sản phẩm nhằm chiếm lĩnh thị trƣởng, tăng thị phần, giành khách hàng. Căn cứ theo phương thức cạnh tranh, có cạnh tranh bằng giá và cạnh tranh phi giá (cạnh tranh bằng chất lƣợng hàng hóa, thời gian giao hàng, dịch vụ khách hàng…). Căn cứ theo loại chủ thể tham gia cạnh tranh, có cạnh tranh giữa ngƣời mua và ngƣời bán, cạnh tranh giữa những ngƣời bán với nhau và cạnh tranh giữa những ngƣời mua với nhau.
Căn cứ theo phạm vi cạnh tranh, có cạnh tranh nội bộ ngành, cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và cạnh tranh quốc tế. Căn cứ theo cấp độ cạnh tranh, có cạnh tranh giữa các quốc gia, cạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp và cạnh tranh sản phẩm. Giữa các cấp độ cạnh tranh đó có mối quan hệ tƣơng hỗ, và suy cho cùng vẫn là cạnh tranh sản phẩm. Thông qua cung cấp sản phẩm mà chủ thể là doanh nghiệp, ngành, Nhà nƣớc mong giành thắng lợi trong cạnh tranh để đạt mục tiêu của mình.2 Năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh Hiện nay, bên cạnh khái niệm năng lực cạnh tranh, ngƣời ta còn sử dụng các khái niệm sức cạnh tranh, tính cạnh tranh và khả năng cạnh tranh.
Mặc dù thuật ngữ này có thể mang sắc thái khác nhau và không đồng nhất trong những trƣờng hợp cụ thể nào đó, những cả bốn thuật ngữ đó đều đƣợc dịch từ một thuật ngữ tiếng Anh là “competitiveness”. Do vậy, trong khuân khổ nghiên cứu của luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm năng lực cạnh tranh dƣới góc độ đồng nhất các khái niệm sức cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, tính cạnh tranh và khả năng cạnh tranh. Theo Từ điển thuật ngữ chính sách thƣơng mại “Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nƣớc khác đánh bại” [27, 112]. Theo Diễn đàn Kinh tế thế giới - World Economic Forum trong Báo cáo năng lực cạnh tranh năm 1991: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm tốt hơn sản phẩm của đối thủ xét về mặt giá cả cũng nhƣ các chất lƣợng phi giá cả khác” [35, 8].
Theo Diễn đàn Thƣơng mại và Phát triển Liên Hiệp quốc (UNCTAD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể đƣợc định nghĩa là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần của mình một cách vững chắc, hoặc cũng có thể định nghĩa là năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp; hoặc nó còn đƣợc định nghĩa nhƣ định nghĩa thông thƣờng là năng lực cạnh tranh bắt nguồn từ tỷ suất lợi nhuận. Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã đƣa ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh kết hợp cả doanh nghiệp, ngành và quốc gia: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. z 20 Theo từ điển Đại từ điển tiếng Việt “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại, trên cùng một thị trƣờng tiêu thụ”, một ngành có năng lực cạnh tranh khi ngành đó có năng lực duy trì đƣợc lợi nhuận và thị phần trên các thị trƣờng trong và ngoài nƣớc [14, 132]. Theo từ điển Bách khóa Việt Nam tập 3 “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh hoặc một nƣớc giành thắng lợi (kể cả dành lại một phần hay toàn bộ thị phẩn) trong cuộc cạnh tranh trên thị trƣờng tiêu thụ.
Một mặt hàng có năng lực cạnh tranh là mặt hàng có thể thu hút đƣợc nhiều ngƣời mua hơn những hàng hóa cùng loại đƣợc tiêu thụ trên thị trƣờng. Năng lực cạnh tranh dựa trên nhiều yếu tố: giá trị sử dụng và chất lƣợng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản xuất chủ yếu dựa trên cơ sở kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, quy mô sản xuất lớn và nhờ đó giá thành sản phẩm hạ. Các yếu tố xã hội nhƣ giữ đƣợc tín nhiệm (chữ tín) trên thị trƣờng, việc tuyên truyền, hƣớng dẫn tiêu dùng quảng cáo cũng có ảnh hƣởng quan trọng” [8, 35]. Để hiểu rõ hơn khái niệm năng lực cạnh tranh, cần phân biệt sự khác nhau trong khái niệm giữa năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện một hay nhiều lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh nhằm đạt đƣợc thắng lợi trong cạnh tranh, ƣu thế này dẫn đến chi phí thấp hơn hoặc sự khác biệt trong sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp so với sản phẩm/dịch vụ của đối thủ cạnh tranh và đƣợc thể hiện thành tỷ suất lợi nhuận cao hơn trung bình. Tuy nhiên, để doanh nghiệp có thể vƣợt trội so với đối thủ cạnh tranh và duy trì vị thế đó chính là dựa vào năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.